Liên Hệ | English
Danh Mục
Giới thiệu
Phổ biến kiến thức
Tư vấn
Cuộc sống sau điều trị
Bệnh học ung thư
Dịch vụ y tế
Ung thư trẻ em
Công trình nghiên cứu
Diễn dàn
Tin tức & Sự kiện
Hợp tác
Liên hệ
Đường dây nóng
Liên Kết Website
Tìm kiếm
 
Counter engine
HTML Hit Counters
Giới thiệu

Tìm hiểu về ung thư cổ tử cung

        Ung thư cổ tử cung là loại ung thư đứng hàng thứ hai trong các ung thư ở phụ nữ miền Bắc Việt nam sau ung thư vú và đứng hàng đầu trong các ung thư ở phụ nữ miền Nam Việt nam. Nhiều nghiên cứu cho thấy tỷ lệ cao của ung thư cổ tử cung ở nhiều nước đang phát triển ở châu Phi, châu Á, Trung và Nam Mỹ do không có các chương trình phát hiện sớm ung thư được tổ chức, tỷ lệ tử vong còn cao.

          Ung thư cổ tử cung rất khó điều trị nếu không được phát hiện sớm, nhưng khi được phát hiện sớm, hầu như 100% ung thư cổ tử cung có thể được chữa khỏi hoàn toàn. Xét nghiệm Pap là một xét nghiệm đơn giản để phát hiện ung thư cổ tử cung ở giai đoạn sớm.

       Ở các nước phát triển ung thư cổ tử cung đã được kiểm soát nhờ chương trình sàng lọc bằng phiến đồ tế bào học nhuộm theo phương pháp Papanicolaou, còn gọi là phiến đồ Pap hay gọi là xét nghiệm Pap (đôi khi còn gọi là phiến đồ Pap hay phiến đồ tế bào học cổ tử cung). Ở Việt Nam, do tỷ lệ mắc bệnh ung thư cổ tử cung thấp, chưa có chương trình sàng lọc quốc gia về ung thư cổ tử cung. Do đó, phụ nữ Việt nam chưa được tiếp cận và hưởng lợi ích của chương trình này. Tuy nhiên việc nâng cao hiểu biết của chị em phụ nữ về nguyên nhân của bệnh, việc sàng lọc bệnh, các triệu chứng, các phương pháp chẩn đoán, điều trị và tiên lượng bệnh là cần thiết. Cuốn sách nhỏ này sẽ giúp chị em phụ nữ có được các hiểu biết về bệnh ung thư cổ tử cung, cách dự phòng và điều trị bệnh.

 

CỔ TỬ CUNG LÀ GÌ?

       Cổ tử cung là một phần của hệ thống sinh dục. Nó là phần thấp hơn và hẹp của tử cung. Tử cung là một cơ quan hình quả lê rỗng nằm ở phần ổ bụng dưới (vùng khung chậu), sau bàng quan và trước trực tràng. Cổ tử cung nối tử cung với âm đạo. Âm đạo dẫn ra phía ngoài của cơ thể (hình 1).
          Ống cổ tử cung là một đường nhỏ. Máu chảy từ tử cung qua ống cổ tử cung vào âm đạo trong chu kỳ kinh của người phụ nữ. Cổ tử cung cũng sản xuất ra chất nhầy. Chất nhầy giúp tinh trùng di chuyển từ âm đạo vào tử cung. Trong khi có mang, cổ tử cung đóng kín lại để giữ thai nhi bên trong tử cung. Khi đẻ, cổ tử cung giãn ra cho phép thai nhi đi qua âm đạo.
Hình 1: Giải phẫu cổ tử cung

UNG THƯ LÀ GÌ?

       Ung thư là một nhóm của hơn 100 bệnh khác nhau. Tất cả chúng đều ảnh hưởng đến tế bào - đơn vị căn bản của cơ thể. Ung thư bắt đầu trong các tế bào. Các tế bào tạo nên các mô. Các mô tạo nên các cơ quan của cơ thể.

       Giống như các cơ quan khác trong cơ thể, cổ tử cung được tạo thành bởi nhiều loại tế bào. Bình thường, các tế bào phát triển và phân chia để tạo thành tế bào mới khi cơ thể cần chúng. Khi các tế bào phát triển già đi, chúng chết và các tế bào mới thay thế chúng. Các tế bào già và chết đi theo một chương trình định sẵn nên còn gọi là chết tế bào theo chương trình.
       Đôi khi quá trình có trật tự này bị rối loạn. Các tế bào mới được tạo thành khi cơ thể không cần chúng và các tế bào già không chết khi đáng lẽ chúng phải chết. Do các đột biến trong gen của tế bào, chúng đã trở thành những tế bào “bất tử” (không thể chết). Các tế bào thừa này tạo thành một khối mô gọi là u. Các u có thể lành tính hay ác tính.Hình 2: Cổ tử cung bình thường và cổ tử cung bị ung thư

Các u lành tính không phải là ung thư

         • Các u lành tính hiếm khi đe doạ đến đời sống

         • Nói chung các u lành tính có thể được cắt bỏ và chúng thường không phát triển trở lại.

         • Các tế bào từ các u lành tính không xâm nhập vào các mô xung quanh chúng.

         • Các tế bào từ các u lành không lan tràn tới các phần khác của cơ thể.

         • Các polyp, u nang và u nhú đường sinh dục là các loại phát triển lành tính trên cổ tử cung.

Các u ác tính là ung thư

         • Các u ác tính nói chung trầm trọng hơn các u lành tính. Chúng có thể đe doạ đến đời sống của bệnh nhân.

         • Các u ác tính có thể được phẫu thuật cắt bỏ, nhưng đôi khi chúng phát triển trở lại.

         • Các tế bào từ các u ác tính có thể xâm nhập và phá huỷ các mô và các cơ quan lân cận: ung thư cổ tử cung xâm lấn bàng quang hoặc trực tràng (hình 3).

Hình 3: Ung thư cổ tử cung xâm lấn bàng quan, trực tràng

         • Các tế bào từ các u ác tính có thể lan tràn (di căn) tới các phần khác của cơ thể. Các tế bào ung thư lan tràn sau khi tách khỏi các u ban đầu (u nguyên phát) và đi vào dòng máu hoặc hệ thống bạch huyết. Các tế bào u xâm nhập các cơ quan khác và phá huỷ các cơ quan này. Sự lan tràn của ung thư được gọi là di căn.

Khi ung thư lan tràn từ vị trí ban đầu tới một phần khác của cơ thể, u mới có cùng loại các tế bào bất thường và cùng tên như u nguyên phát. Ví dụ, nếu ung thư cổ tử cung lan tràn tới phổi, các tế bào ung thư ở phổi hiện thời là các tế bào ung thư cổ tử cung. Bệnh này là ung thư cổ tử cung di căn, không phải là ung thư phổi. Vì lý do này, nó được điều trị như ung thư cổ tử cung, không được điều trị như ung thư phổi. Các bác sĩ gọi khối u mới này là “bệnh ở xa” hoặc bệnh di căn.

          Ung thư cổ tử cung cũng được gọi theo tên của các loại tế bào phát sinh ung thư. Hầu hết ung thư cổ tử cung là ung thư biểu mô tế bào vảy. Các tế bào vảy là các tế bào mỏng, dẹt nó hình thành bề mặt của cổ tử cung.

 

CÁC YẾU TỐ NGUY CƠ CỦA UNG THƯ CỔ TỬ CUNG

       Các bác sĩ không thể cắt nghĩa vì sao người phụ nữ này bị ung thư cổ tử cung trong khi người khác không bị. Tuy nhiên, chúng ta biết rằng một người phụ nữ có một số yếu tố nguy cơ có thể dễ mắc ung thư cổ tử cung hơn những người khác. Một yếu tố nguy cơ đôi khi có thể làm tăng cơ hội phát triển bệnh.

          Bằng một số nghiên cứu số lượng lớn phụ nữ trên toàn thế giới, các nhà nghiên cứu đã xác định các yếu tố nguy cơ chắc chắn làm tăng cơ hội để các tế bào ở cổ tử cung sẽ trở thành bất thường hoặc ung thư. Trong nhiều trường hợp họ tin rằng ung thư cổ tử cung phát triển khi  hai hoặc nhiều hơn các yếu tố nguy cơ cùng tác động với nhau.

            - Các virus u nhú ở người - HPV (Human papilloma virus). Có trên 80 loại virus u nhú ở người. Khoảng 30 loại được lây truyền theo đường tình dục. Khoảng một nửa số này có liên quan với ung thư cổ tử cung. Nhiễm virus u nhú ở người là yếu tố nguy cơ chính của ung thư cổ tử cung. Nhiễm virus u nhú rất phổ biến. Các virus này có thể được truyền từ người này sang người khác qua quan hệ tình dục. Hầu hết các người lớn đã bị nhiễm HPV ở một thời điểm nào đó trong đời sống của họ.

            Một số typ (chủng) HPV có thể gây nên những thay đổi trong tế bào của cổ tử cung, gây tăng sinh các tế bào bất thường. Các thay đổi này có thể dẫn đến các u nhú đường sinh dục, ung thư và các tổn thương khác. Người phụ nữ bị nhiễm HPV hoặc bạn tình của họ bị nhiễm virus này có nguy cơ phát triển ung thư cổ tử cung cao hơn trung bình.

            Tuy nhiên, không phải phụ nữ nào bị nhiễm HPV cũng phát triển thành ung thư cổ tử cung và các virus không có mặt ở tất cả các phụ nữ bị ung thư cổ tử cung. Vì lý do này, các nhà khoa học tin rằng các yếu tố khác tác động cùng với HPV, ví dụ nhiễm virus Herpes đường sinh dục.

            Các bác sĩ có thể xét nghiệm HPV ngay cả khi người phụ nữ không có u nhú hoặc các triệu chứng khác. Nếu một phụ nữ bị nhiễm HPV, bác sĩ có thể hướng dẫn phương pháp tránh gây nhiễm virus cho người khác. Xét nghiệm Pap có thể phát hiện những thay đổi của tế bào trong cổ tử cung gây nên do HPV. Điều trị những thay đổi này có thể dự phòng ung thư cổ tử cung. Có nhiều phương pháp điều trị, bao gồm làm lạnh (đóng băng) hoặc làm bỏng mô bị nhiễm virus. Đôi khi thuốc có thể hỗ trợ.

         - Không được xét nghiệm Pap đều đặn? Ung thư cổ tử cung phổ biến hơn ở những phụ nữ không được xét nghiệm Pap đều đặn. Đặc biệt nhiều phụ nữ trên 60 tuổi không được xét nghiệm Pap đều đặn có tăng nguy cơ mắc ung thư cổ tử cung. Xét nghiệm Pap giúp các bác sĩ tìm thấy các tế bào tiền ung thư (trước khi trở thành tế bào ung thư thực sự). Điều trị những thay đổi cổ tử cung tiền ung thư có thể dự phòng được ung thư cổ tử cung.

         - Hệ thống miễn dịch bị suy yếu (hệ thống đề kháng tự nhiên của cơ thể): các phụ nữ nhiễm HIV (virus gây bệnh AIDS) hoặc dùng thuốc ức chế miễn dịch có nguy cơ mắc ung thư cổ tử cung cao hơn nguy cơ trung bình. Cũng như vậy, Các bệnh nhân được ghép tạng, được sử dụng thuốc ức chế miễn dịch để ngăn ngừa thải ghép, nhiều khả năng phát triển các tổn thương tiền ung thư. Với những phụ nữ này, bác sĩ có thể gợi ý sàng lọc ung thư cổ tử cung đều đặn bằng xét nghiệm Pap.

         - Tuổi: ung thư cổ tử cung xảy ra phổ biến hơn ở những phụ nữ trên 40 tuổi.

         - Người phụ nữ bị nhiễm khuẩn cơ quan sinh sản: như polyp hoặc các bệnh lây qua đường tình dục.

          - Người có kết quả xét nghiệm Pap bất thường trước đây.

- Tiền sử quan hệ tình dục:

+ Những phụ nữ có quan hệ tình dục trước 18 tuổi.

+ Người phụ nữ có quan hệ tình dục với nhiều người có nguy cơ mắc ung thư cổ tử cung cao hơn nguy cơ trung bình.

+ Cũng như vậy, một người phụ nữ có quan hệ tình dục với một người đàn ông, người này bắt đầu quan hệ tình dục lúc tuổi trẻ và đã từng có quan hệ tình dục với nhiều người, hoặc trước đây người đàn ông này có vợ bị ung thư cổ tử cung, cũng có thể có nguy cơ mắc ung thư cổ tử cung cao hơn.

Trong cả hai trường hợp, nguy cơ phát sinh ung thư cổ tử cung cao hơn vì những phụ nữ này có nguy cơ nhiễm HPV cao hơn nguy cơ trung bình.

          Các nhà khoa học không biết chính xác tại sao quan hệ tình dục của phụ nữ và bạn tình của họ ảnh hưởng tới nguy cơ phát triển ung thư cổ tử cung. Tuy nhiên, nghiên cứu chỉ ra rằng một số virus lây truyền qua đường tình dục có thể bắt đầu gây ra một loạt các thay đổi của các tế bào ở cổ tử cung, mà nó có thể dẫn tới ung thư. Người phụ nữ có nhiều bạn tình hoặc các bạn tình của họ đã có nhiều bạn tình có thể có nguy cơ tăng đối với ung thư cổ tử cung, ít nhất một phần bởi vì họ có nhiều khả năng bị nhiễm virus lây truyền qua đường tình dục hơn.

         - Hút thuốc lá hoặc hít phải khói thuốc lá: hút thuốc lá cũng tăng nguy cơ ung thư cổ tử cung, mặc dù không rõ tại sao hoặc như thế nào. Nguy cơ có vẻ tăng theo số lượng thuốc lá mà người phụ nữ hút hàng ngày và số năm mà họ đã hút. Các phụ nữ có nhiễm HPV đồng thời có hút thuốc lá có nguy cơ ung thư cổ tử cung cao hơn những phụ nữ có nhiễm HPV không hút thuốc lá.

         - Sử dụng viên thuốc tránh thai bằng đường uống trong một thời gian dài (5 năm hay lâu hơn) có thể làm tăng nguy cơ ung thư cổ tử cung ở những phụ nữ nhiễm HPV.

Tuy nhiên không xác định được rằng viên thuốc tránh thai trực tiếp gây ung thư cổ tử cung. Mối liên hệ này khó chứng minh bởi vì hai yếu tố nguy cơ chính đối với ung thư cổ tử cung: quan hệ tình dục ở tuổi trẻ và có nhiều bạn tình, có thể phổ biến trong số các phụ nữ sử dụng thuốc tránh thai hơn là trong số các phụ nữ không sử dụng thuốc tránh thai. Các hãng dược phẩm đều cảnh báo nguy cơ này và khuyên những người sử dụng thuốc tránh thai nên làm xét nghiệm Pap hàng năm.

         - Có nhiều con: Các nghiên cứu đã chỉ rõ rằng đẻ nhiều con có thể tăng nguy cơ ung thư cổ tử cung ở những người nhiễm HPV.

         - Dùng thuốc Diethylstibestrol (DES) (được sử dụng vào những năm 1940-1970) – một loại thuốc dùng để ngăn ngừa sảy thai trong thời kì thai nghén, có thể làm tăng nguy cơ. Một loại ung thư cổ tử cung và âm đạo hiếm gặp đã được phát hiện ở một số nhỏ các người con gái mà mẹ của họ đã sử dụng thuốc này trong thời kì mang thai họ.

       Dự phòng:

          Vitamin A có thể có vai trò để làm dừng hoặc ngăn ngừa các thay đổi ung thư ở các tế bào như các tế bào ở bề mặt của cổ tử cung.

          Hiện tại, phát hiện sớm và điều trị các tổn thương tiền ung thư vẫn là cách ngăn ngừa ung thư cổ tử cung hiệu quả nhất. Người phụ nữ nên nói với bác sĩ của họ về lịch khám phù hợp. Dựa vào các yếu tố như tuổi của người phụ nữ, tiền sử bệnh và các yếu tố nguy cơ, bác sĩ sẽ cho họ lời khuyên.

Những phụ nữ nghĩ rằng mình có nguy cơ mắc ung thư cổ tử cung có thể hỏi bác sĩ về cách dự phòng và kiểm tra.

 

SÀNG LỌC BỆNH

        Ung thư cổ tử cung có thể dự phòng được. Người phụ nữ có thể tự bảo vệ mình khỏi bị ung thư cổ tử cung bằng việc đi khám sàng lọc bệnh một cách đều đặn. Bác sĩ có thể xác định nếu bạn có những thay đổi tế bào có hại trong cổ tử cung của bạn. Những thay đổi này có thể được điều trị trước khi chúng trở thành ung thư. Các lợi ích của sàng lọc bệnh ung thư cổ tử cung là:

         - Sàng lọc để kiểm tra những thay đổi của cổ tử cung trước khi có các triệu chứng là rất quan trọng.

        - Sàng lọc để phát hiện các tế bào bị tổn thương tiền ung thư như nhiễm HPV hoặc các tình trạng viêm nhiễm khác.

        - Sàng lọc có thể giúp các bác sĩ tìm những tế bào bất thường trước khi ung thư phát sinh.

         - Tìm kiếm và điều trị những tế bào bất thường có thể dự phòng hầu hết các ung thư cổ tử cung.

         - Sàng lọc cũng giúp tìm các ung thư sớm khi điều trị còn có hiệu quả.

       Trong nhiều thập kỷ vừa qua, ở các nước có chương trình sàng lọc ung thư cổ tử cung hàng loạt, số các phụ nữ được chẩn đoán ung thư cổ tử cung đã giảm. Các bác sĩ tin rằng đó là hiệu quả của việc sàng lọc.

Tại sao cần bạn cần có xét nghiệm Pap?

          Bạn nên có xét nghiệm Pap và khám đều đặn để phát hiện sớm ung thư cổ tử cung. Gần 100% các trường hợp ung thư cổ tử cung có thể được điều trị khỏi hoàn toàn nếu được phát hiện sớm. Hầu hết các phụ nữ chết vì ung thư cổ tử cung là những người không bao giờ có xét nghiệm Pap. Nếu các phụ nữ này có xét nghiệm Pap đều đặn, họ sẽ hầu như có thể đã sống thọ hơn.

          Khám khung chậu và xét nghiệm Pap để tìm những thay đổi tế bào của cổ tử cung có thể trở thành ung thư hoặc tìm ung thư cổ tử cung ở giai đoạn sớm. Nếu phát hiện cổ tử cung bị nhiễm trùng, bác sĩ sẽ điều trị viêm cổ tử cung và sau đó lặp lại xét nghiệm Pap lần sau. Nếu khám khung chậu hoặc xét nghiệm Pap cho thấy một số tổn thương khác nặng hơn nhiễm trùng, bác sĩ có thể lặp lại xét nghiệm Pap hoặc làm thêm một số xét nghiệm khác để phát hiện xem vấn đề đó là gì.

Tuy nhiên ở Việt nam, phần lớn các trường hợp ung thư cổ tử cung được phát hiện ở giai đoạn muộn, điều trị tốn kém, khó khăn. Đó là do chị em phụ nữ chưa hiểu về giá trị của xét nghiệm Pap trong phát hiện các tổn thương tiền ung thư và ung thư cổ tử cung sớm. Nếu đi xét nghiệm Pap định kỳ, phụ nữ không bị chết vì căn bệnh này.

Xét nghiệm Pap là gì?

          Xét nghiệm Pap là một qui trình để tìm kiếm các tế bào bất thường ở cổ tử cung nó có thể giúp để phát hiện ung thư cổ tử cung ở giai đoạn sớm. Bác sĩ thực hiện xét nghiệm này trong khi khám phụ khoa.

          Các bác sĩ khuyên rằng các phụ nữ có thể giúp làm giảm nguy cơ ung thư cổ tử cung bằng cách đi xét nghiệm Pap đều đặn. Xét nghiệm Pap là một xét nghiệm đơn giản được sử dụng để xem xét các tế bào của cổ tử cung. Với nhiều phụ nữ, xét nghiệm Pap không đau.

Một phương pháp xét nghiệm Pap mới được gọi là xét nghiệm dựa trên dung dịch cố định. Bác sĩ không dùng quệt bẹt mà dùng một bàn chải nhỏ lấy tế bào ở cổ tử cung, sau đó các tế bào được ngâm trong dung dịch thuốc cố định để gửi đến phòng xét nghiệm.

Nhờ có xét nghiệm này, 90-95% các trường hợp ung thư cổ tử cung có thể được phát hiện bệnh ở giai đoạn sớm khi chúng có thể được điều trị khỏi hoàn toàn.

 

Cần xét nghiệm Pap như thế nào?

       Xét nghiệm Pap đều đặn rất quan trọng để phòng ngừa ung thư cổ tử cung. Bởi vì xét nghiệm Pap có thể tìm thấy ung thư cổ tử cung hoặc các tế bào bất thường dẫn đến ung thư cổ tử cung. Phát hiện và điều trị sớm sự phát triển các tế bào bất thường là cách hiệu quả nhất để phòng ngừa ung thư cổ tử cung. Vậy cần xét nghiệm Pap như thế nào? Đến nay chưa có một quy trình xét nghiệm Pap cho phụ nữ Việt Nam, kinh nghiệm tại Mỹ cho thấy:

Các phụ nữ cần bắt đầu đi xét nghiệm Pap ba năm sau khi họ có quan hệ tình dục lần đầu hoặc khi họ tới 21 tuổi.

Hầu hết các phụ nữ phải đi xét nghiệm Pap ít nhất ba năm một lần.

Các phụ nữ từ 65 đến 70 tuổi đã có ít nhất ba lần kết quả xét nghiệm PAP bình thường và không có kết quả xét nghiệm Pap bất thường trong 10 năm sau, có thể tham khảo ý kiến của bác sĩ để ngừng xét nghiệm Pap.

Các phụ nữ đã được tiến hành phẫu thuật cắt bỏ tử cung để loại bỏ cả tử cung và cổ tử cung không cần đi xét nghiệm Pap để sàng lọc ung thư cổ tử cung. Tuy nhiên nếu phẫu thuật cắt bỏ tử cung để điều trị các tổn thương (tế bào) tiền ung thư hoặc ung thư, cần tiếp tục xét nghiệm Pap.

Người phụ nữ có nguy cơ cao đối với ung thư cổ tử cung nên đặc biệt cẩn thận để theo mọi chỉ dẫn của bác sĩ để kiểm tra đều đặn, bao gồm khám khung chậu và xét nghiệm Pap.

 - Chị em phụ nữ có thể hỏi bác sĩ để biết khi nào họ cần bắt đầu xét nghiệm Pap, thường phải đi xét nghiệm trong khoảng thời gian bao lâu và khi nào có thể dừng xét nghiệm. Xét nghiệm Pap đặc biệt quan trọng đối với những người có nguy cơ ung thư cổ tử cung cao hơn mức trung bình.

       Một số hoạt động có thể “che dấu” hoặc làm mất các tế bào bất thường và ảnh hưởng đến kết quả xét nghiệm Pap. Cần tránh những hoạt động sau đây trước khi làm xét nghiệm Pap:

         • Không rửa âm đạo trong vòng 48 giờ trước khi xét nghiệm

         • Không có quan hệ tình dục trong 48 giờ trước khi xét nghiệm

         • Không sử dụng các thuốc đặt âm đạo (trừ khi có chỉ định của bác sĩ) hoặc các chất đặt âm đạo để tránh thai

       Người phụ nữ nên xét nghiệm Pap khi đang không có hành kinh : thời gian tốt nhất là giữa 10 đến 20 ngày sau ngày đầu của chu kì kinh nguyệt.

Bạn có thể xét nghiệm Pap ở đâu   ?

          Bạn có thể làm xét nghiệm Pap ở:

Phòng khám bác sĩ gia đình của bạn

Phòng khám của bác sĩ phụ khoa

Tại các bệnh viện chuyên khoa hoặc đa khoa

Hoặc có thể lấy tế bào xét nghiệm khi tổ chức khám sàng lọc ở các cộng đồng dân cư

Quy trình sàng lọc ung thư cổ tử cung

          Sàng lọc là cách để phát hiện các tổn thương tiền ung thư ở cổ tử cung. Sàng lọc đối với ung thư cổ tử cung là cách quan trọng nhất để phòng ngừa bệnh. Cách tốt nhất để điều trị ung thư cổ tử cung là phải phát hiện bệnh ở giai đoạn sớm.

          Quy trình sàng lọc gồm 3 phần:

Lấy mẫu tế bào xét nghiệm

Khám theo dõi phụ khoa

Điều trị phụ khoa

          Sàng lọc cho phép bác sĩ phát hiện nếu có các biến đổi tế bào bất thường ở cổ tử cung. Theo dõi phụ khoa cần thiết cho bất kì người phụ nữ nào có một kết quả xét nghiệm Pap bất thường. Sự theo dõi này có thể bao gồm sự lặp lại xét nghiệm Pap đơn thuần hoặc làm một số xét nghiệm khác để kiểm tra tổ chức bất thường.

          Điều trị phụ khoa có thể cần thiết, tuỳ thuộc vào kết quả khám định kì. Có thể điều trị ngay thời gian khám định kì hoặc sau một vài ngày.

Lấy mẫu tế bào xét nghiệm

          Xét nghiệm Pap (Hình 4)
          Xét nghiệm Pap là một kĩ thuật đơn giản và không đau, nó có thể được thực hiện ở phòng khám của bác sĩ. Bác sĩ sử dụng một dụng cụ dược gọi là mỏ vịt để mở rộng âm đạo của bạn để kiểm tra âm đạo và cổ tử cung. Sau đó bác sĩ sử dụng một cái quẹt bẹt nhỏ bằng gỗ hay bằng nhựa để nhẹ nhàng nạo các tế bào bên ngoài cổ tử cung và một bàn chải để nạo các tế bào bên trong cổ tử cung. Sau đó bác sĩ trải các tế bào trên một lam kính hoặc cố định chúng trong một dung dịch bảo quản và gửi tới phòng xét nghiệm để kiểm tra tế bào. Thường không có biến chứng gì khi làm xét nghiệm Pap.Hình 4: Cách lấy tế bào làm xét nghiệm Pap

Khám khung chậu

          Sau khi tiến hành xong xét nghiệm Pap, bác sĩ khám cơ quan sinh sản  bằng đưa 2 ngón tay vào âm đạo của bạn trong khi sử dụng tay khác ấn vùng bụng dưới của bạn xuống để kiểm tra tử cung, vòi trứng và buồng trứng của bạn để tìm kiếm bất kì mọi bất thường nào. Các khám này luôn nhanh, nhẹ nhàng và không gây đau. Quy trình này được gọi là khám khung chậu.

Kết quả xét nghiệm Pap

       Thông thường nhất các tế bào bất thường được tìm thấy bởi một xét nghiệm Pap không phải là ung thư. Tuy nhiên, một số trạng thái bất thường có thể trở thành ung thư sau một thời gian.

Kết quả bình thường : các bác sĩ có thể trả lời là phiến đồ tế bào học bình thường hoặc phiến đồ tế bào học trong giới hạn bình thường. Trong trường hợp này, bác sĩ không cần xử trí gì thêm và có thể không cần liên lạc với bạn. Một kết quả xét nghiệm âm tính nghĩa là bạn không bị ung thư cổ tử cung. Tuy nhiên, ngay cả kết quả xét nghiệm là bình thường, năm sau bạn vẫn cần phải làm lại xét nghiệm Pap.

Kết quả bất thường (hình 5): Nếu kết quả xét nghiệm Pap của bạn bất thường, bác sĩ sẽ liên lạc với bạn. Bạn không nên quá lo lắng nếu điều này xảy ra. Xét nghiệm Pap bất thường có thể bị gây ra bởi nhiều tình trạng khác nhau. Đôi khi một nhiễm trùng đơn giản có thể gây ra một kết quả xét nghiệm Pap bất thường.

 Các biến đổi viêm: một tỷ lệ khá cao các xét nghiệm Pap ở phụ nữ Việt Nam có biểu hiện viêm thông thường, không đặc hiệu (không do loại tác nhân gây bệnh đặc hiệu có thể xác định được) hoặc viêm do nấm hoặc do trùng roi Trichomonas hay virus u nhú (HPV). Trường hợp này bác sĩ sẽ cho đơn thuốc điều trị và sau đó kiểm tra lại. Điều trị khỏi viêm cũng là để tránh diễn biến xấu sau này. Nếu kết quả xét nghiệm có nhiễm HPV, bác sĩ có thể kiểm tra thêm để xác định lý do đối với xét nghiệm Pap bất thường.
Hình 5: Kết quả xét nghiệm Pap

Phương pháp soi cổ tử cung thường được sử dụng. Nó cho phép bác sĩ có thể nhìn thấy cổ tử cung để xác định nếu có chính xác các bất thường. Bác sĩ có thể yêu cầu lấy một mẫu nhỏ tế bào (được gọi là sinh thiết) từ vùng trong cổ tử cung mà không thể được nhìn thấy trong quá trình soi cổ tử cung.

Bạn phải thực hiện tất cả các xét nghiệm mà bác sĩ của bạn yêu cầu, bởi vì quy trình này sẽ giúp bác sĩ của bạn phát hiện sớm các tổn thương tiền ung thư. Bạn không nên sợ xét nghiệm Pap và các kết quả xét nghiệm Pap bất thường. Nên nhớ rằng, cách tốt nhất để ngăn ngừa chết do ung thư cổ tử cung là phải sàng lọc nó, phát hiện nó sớm và điều trị tình trạng tiền ung thư sớm trước khi nó trở thành ung thư.

Ngay cả sau khi tổ chức tiền ung thư của bạn được lấy bỏ, bạn vẫn cần được bác sĩ của bạn theo dõi. Bạn cần phải tuân theo mọi chỉ dẫn của bác sĩ. Điều này có nghĩa là cần có xét nghiệm Pap và gặp bác sĩ thường xuyên hơn. Đây là cách duy nhất để chắc chắn rằng các tổn thương tiền ung thư không trở lại.

 

CÁC TRẠNG THÁI TIỀN UNG THƯ VÀ UNG THƯ CỔ TỬ CUNG

       Các tế bào trên bề mặt của cổ tử cung đôi khi trở nên bất thường nhưng không phải là ung thư. Các nhà khoa học tin rằng một số những thay đổi bất thường trên cổ tử cung là bước đầu của một loạt những thay đổi chậm dẫn đến ung thư trong những năm sau. Đó là một số những thay đổi bất thường là tiền ung thư, chúng có thể trở thành ung thư sau một thời gian.

       Trong nhiều năm, các bác sĩ đã sử dụng những từ (thuật ngữ) khác nhau để mô tả những thay đổi bất thường trong các tế bào trên bề mặt cổ tử cung. Một thuật ngữ hiện nay được dùng là tổn thương nội biểu mô vảy (thuật ngữ tổn thương để chỉ một vùng bất thường, nội biểu mô nghĩa là những tế bào bất thường chỉ có mặt ở trên lớp bề mặt của các tế bào). Những thay đổi trong các tế bào này có thể chia thành hai loại:

         - Tổn thương nội biểu mô độ thấp (LSIL): Đó là những biến đổi mức độ nhẹ của các tế bào cổ tử cung còn nằm trên bề mặt của cổ tử cung. Đó là những thay đổi sớm về kích thước, hình dạng và số lượng các tế bào tạo thành bề mặt của cổ tử cung. Những thay đổi này thường gây nên do nhiễm HPV. Tổn thương nội biểu mô độ thấp là phổ biến, đặc biệt ở những phụ nữ trẻ. Tổn thương nội biểu mô độ thấp không phải là ung thư. Ngay cả không điều trị, hầu hết các tổn thương nội biểu mô độ thấp vẫn giữ nguyên hoặc biến mất. Tuy nhiên, một số biến thành tổn thương nội biểu mô độ cao, nó có thể dẫn đến ung thư.

Các tổn thương độ thấp tiền ung thư cũng có thể được gọi là loạn sản nhẹ hoặc tân sản (sinh sản mới hay u) nội biểu mô cổ tử cung độ 1 (CIN-1). Những biến đổi sớm trong cổ tử cung này thường xảy ra ở những phụ nữ từ 25 đến 35 tuổi nhưng cũng có thể xuất hiện ở các lứa tuổi khác.

         - Tổn thương nội biểu mô độ cao (HSIL): Tổn thương nội biểu mô độ cao nghĩa là có một số lượng lớn các tế bào tiền ung thư. Trông chúng rất khác với các tế bào bình thường. Giống như tổn thương nội biểu mô độ thấp, những biến đổi tiền ung thư này chỉ xảy ra trên bề mặt cổ tử cung. Các tế bào này sẽ không xâm nhập các lớp sâu hơn của cổ tử cung trong nhiều tháng và có thể nhiều năm.

Tổn thương độ cao cũng có thể được gọi là loạn sản vừa và nặng, CIN2 hoặc CIN3 hoặc ung thư biểu mô tại chỗ. Thường chúng xảy ra giữa tuổi 30 và 40 nhưng có thể xảy ra ở các lứa tuổi khác. Nếu các tế bào bất thường lan tràn sâu hơn vào cổ tử cung hoặc các mô khác, bệnh được gọi là ung thư cổ tử cung hoặc ung thư cổ tử cung xâm nhập. Nó thường xảy ra ở những phụ nữ ngoài 40 tuổi.

 

PHÁT HIỆN SỚM

       Nếu tất cả các phụ nữ được khám phụ khoa và xét nghiệm PAP đều đặn, hầu hết các tổn thương tiền ung thư có thể được phát hiện và được điều trị trước khi trở thành ung thư. Bằng cách này, hầu hết các ung thư xâm nhập có thể được dự phòng. Bất kỳ một ung thư xâm nhập nào xảy ra sẽ có thể được phát hiện ở giai đoạn sớm, có thể điều trị khỏi được.

       Khi khám vùng khung chậu, các bác sĩ kiểm tra tử cung, âm đạo, các buồng trứng, vòi trứng, bàng quang và trực tràng. Bác sĩ kiểm tra bất thường của các cơ quan này về hình dạng hoặc kích thước. Một mỏ vịt được sử dụng để mở rộng âm đạo để bác sĩ có thể nhìn thấy phần trên âm đạo và cổ tử cung.

       Xét nghiệm Pap là một xét nghiệm đơn giản, không đau để phát hiện các tế bào bất thường ở trong và xung quanh cổ tử cung.

       Phương pháp mô tả kết quả của xét nghiệm Pap đang thay đổi. Phương pháp mới nhất là hệ thống Bê- thê- đa (Bethesda). Những thay đổi là những tổn thương nội biểu mô độ thấp và độ cao như đã mô tả ở trên. Nhiều bác sĩ cho rằng hệ thống Bê- thê- đa cung cấp thông tin có lợi hơn hệ thống cũ sử dụng các số từ loại 1 đến loại 5 (trong loại 1 các tế bào là bình thường, trong khi loại 5 là ung thư xâm nhập). Phụ nữ nên yêu càu bác sĩ của họ giải thích hệ thống được sử dụng cho xét nghiệm Pap của họ.

       Tổn thương nội biểu mô độ cao không phải là ung thư, nhưng nếu không điều trị chúng sẽ dẫn đến ung thư. Các tế bào tiền ung thư cũng chỉ ở trên bề mặt của cổ tử cung.

        Một phương pháp mới sàng lọc ung thư cổ tử cung. Một phương pháp mới để sàng lọc ung thư cổ tử cung có thể trở thành quan trọng trong tương lai là xét nghiệm virus HPV. Xét nghiệm HPV theo lý thuyết có thể tìm thấy hầu hết các phụ nữ có nguy cơ phát sinh ung thư cổ tử cung. Với việc phân tích ADN hiện đại, bác sĩ có thể cho bệnh nhân biết họ bị mắc chủng nào của HPV và nguy cơ ra sao.

 

CÁC TRIỆU CHỨNG

       Ung thư cổ tử cung có thể mất nhiều năm để phát triển. Trong thời gian đó, nó có thể dễ dàng được phát hiện bằng xét nghiệm Pap và được điều trị thành công.

Những thay đổi tiền ung thư và ung thư sớm của cổ tử cung luôn không gây đau. Thực tế, nói chung chúng không gây bất kì một triệu chứng nào và không được phát hiện trừ khi người phụ nữ có khám khung chậu và xét nghiệm Pap. Điều quan trọng là không đợi đến khi cảm thấy đau mới đi khám bệnh.

       Các triệu chứng luôn không xuất hiện đến tận khi các tế bào cổ tử cung bất thường trở thành ung thư và xâm nhập tổ chức gần kề. Khi bệnh đã diễn biến xấu hơn, người phụ nữ sẽ thấy một trong những triệu chứng sau đây:

         - Chảy máu âm đạo bất thường:

+ Chảy máu xảy ra giữa các chu kỳ kinh đều đặn

+ Chảy máu sau khi quan hệ tình dục, rửa hoặc khám khung chậu

+ Các kỳ hành kinh kéo dài hơn và nhiều hơn bình thường

+ Chảy máu sau khi mãn kinh

         -  Chảy dịch âm đạo tăng

         - Đau vùng khung chậu – phần bụng dưới, không liên quan tới chu kì kinh nguyệt

         - Đau khi quan hệ tình dục

       Nhiễm khuẩn và các vấn đề sức khoẻ khác cũng có thể gây nên các triệu chứng này. Chỉ có bác sĩ mới có thể khẳng định chắc chắn. Điều quan trọng là một phụ nữ có các triệu chứng này phải đi khám phụ khoa để bác sĩ có thể khám và điều trị bệnh sớm nếu có bệnh.

 

CHẨN ĐOÁN

       Khám vùng khung chậu và xét nghiệm Pap cho phép bác sĩ phát hiện những biến đổi bất thường trong cổ tử cung. Nếu các xét nghiệm này cho thấy có một nhiễm khuẩn, bác sĩ sẽ điều trị nhiễm khuẩn (viêm cổ tử cung) này và làm lại xét nghiệm Pap vào một thời gian sau. Nếu việc thăm khám và xét nghiệm Pap gợi ý một biến đổi nào đó không phải nhiễm khuẩn, bác sĩ cho bệnh nhân làm lại xét nghiệm Pap hoặc các phương pháp khác để tìm ra vấn đề sức khoẻ là gì.

       Nếu một phụ nữ có triệu chứng hoặc kết quả xét nghiệm Pap gợi ý có các tế bào tiền ung thư hoặc ung thư cổ tử cung, bác sĩ có thể tiến hành các phương pháp khác để chẩn đoán.

Các phương pháp này bao gồm:

         - Soi cổ tử cung: là một phương pháp được sử dụng rộng rãi để kiểm tra các vùng bất thường ở cổ tử cung. Bác sĩ sử dụng một máy soi cổ tử cung để nhìn vào cổ tử cung. Máy soi kết hợp một ánh sáng chói với một lăng kính phóng đại làm cho mô được nhìn thấy dễ dàng hơn. Soi cổ tử cung thường được thực hiện ở phòng khám của bác sĩ. Soi cổ tử cung được sử dụng rộng rãi để kiểm tra những vùng bất thường của cổ tử cung. Bác sĩ sẽ bôi một dung dịch giống dấm vào cổ tử cung trước khi soi. Bác sĩ cũng có thể phủ cổ tử cung bằng một dung dịch Iod, gọi là tét Si- le (test Schiller). Các tế bào lành chuyển thành màu nâu, các tế bào bất thường chuyển thành màu trắng hay vàng. Qui trình này được thực hiện ở phòng khám của bác sĩ.

         - Sinh thiết: Bác sĩ lấy một mẫu mô của cổ tử cung để tìm các tế bào tiền ung thư và các tế bào ung thư. Các bác sĩ thường tiến hành gây tê tại chỗ để sinh thiết. Một bác sĩ giải phẫu bệnh kiểm tra mô bằng kính hiển vi. Có các phương pháp sinh thiết sau đây:

+ Sinh thiết khoan lỗ: Bác sĩ sử dụng một dụng cụ rỗng, sắc để lấy một mẫu nhỏ mô cổ tử cung.

+ Lip (LEEP): Bác sĩ sử dụng một vòng dây thép có điện để “lạng” một mảnh mô tròn, mỏng của cổ tử cung.

+ Nạo cổ trong: Bác sĩ sử dụng một dụng cụ nạo (một dụng cụ hình thìa nhỏ) để bào một mẫu mô nhỏ từ ống cổ tử cung. Một số bác sĩ dùng một bàn chải mềm, mỏng thay thế cho thìa nạo.

+ Khoét chóp: Bác sĩ lấy một mẫu mô hình chóp. Khoét chóp hoặc sinh thiết hình nón là để bác sĩ giải phẫu bệnh tìm xem có các tế bào bất thường xâm nhập xuống bên dưới lớp bề mặt của cổ tử cung không. Bác sĩ thường phải làm thủ thuật này sau khi đã gây mê toàn thân. Khoét chóp cũng có thể được sử dụng như một phương pháp điều trị đối với tổn thương tiền ung thư nếu như toàn bộ vùng bất thường có thể được lấy bỏ.

       Việc lấy mô khỏi cổ tử cung có thể gây chảy máu hoặc chảy dịch. Tuy nhiên vùng đã lấy mô thường lành nhanh. Người phụ nữ có thể thấy đau nhẹ. Thuốc có thể chữa khỏi sự khó chịu này. Trong một số ít trường hợp, có thể không rõ là xét nghiệm Pap bất thường hoặc một triệu chứng ở một người phụ nữ gây nên bởi những biến đổi ở cổ tử cung  hay ở nội mạc tử cung (lớp màng mỏng phủ mặt trong tử cung). Trong trường hợp này bác sĩ nong giãn rộng cổ tử cung và nạo nội mạc tử cung. Bác sĩ sử dụng một thìa nạo đưa vào buồng tử cung qua cổ tử cung đã được mở rộng để nạo mô nội mạc tử cung và nạo ống cổ tử cung để lấy mô xét nghiệm. Kỹ thuật này đòi hỏi phải gây tê tại chỗ hoặc gây mê và được thực hiện tại bệnh viện hoặc phòng khám của bác sĩ.

 

ĐỊNH GIAI ĐOẠN

       Sự lựa chọn phương pháp điều trị ung thư cổ tử cung phụ thuộc vào vị trí, kích thước khối u, giai đoạn (sự lan rộng) của bệnh, tuổi, sức khoẻ toàn trạng và các yếu tố khác.

Nếu một sinh thiết cho biết một bệnh nhân bị ung thư, bác sĩ sẽ khám vùng khung chậu một cách cẩn thận và có thể lấy thêm mô xét nghiệm để biết sự lan rộng (giai đoạn của bệnh). Định giai đoạn cho biết khối u có xâm nhập, đã xâm nhập mô xung quanh chưa, liệu ung thư đã lan tràn chưa và lan tràn đến phần nào của cơ thể.

Dưới đây là các giai đoạn của ung thư cổ tử cung (hình 6):

Giai đoạn 0: Ung thư chỉ được tìm thấy ở các tế bào trong lớp mô mỏng phủ bề mặt cổ tử cung. Giai đoạn 0 còn gọi là ung thư biểu mô tại chỗ

Giai đoạn I: Ung thư đã xâm nhập vào cổ tử cung dưới lớp tế bào phủ bề mặt cổ tử cung nhưng nó chỉ được tìm thấy ở cổ tử cung.

Giai đoạn II: Ung thư đã lan tràn ra ngoài cổ tử cung vào các mô ở gần. Ung thư đã lan tràn vào phần trên của âm đạo. Ung thư không xâm nhập vào một phần ba dưới của âm đạo hoặc thành khung chậu

Giai đoạn III: Ung thư đã lan tràn vào phần thấp hơn của âm đạo (IIIA). Nó cũng đã có thể lan tràn vào thành khung chậu hoặc các hạch bạch huyết ở gần (IIIB).

Giai đoạn IV: ung thư đã lan tràn tới bàng quang, trực tràng hoặc các phần khác của cơ thể.
Hình 6: Phân giai đoạn ung thư cổ tử cung

Ung thư tái phát: Ung thư đã được điều trị nhưng đã quay trở lại sau một thời gian nó không thể được phát hiện. Ung thư có thể xuất hiện lại ở cổ tử cung (tái phát tại chỗ) hoặc ở các phần khác của cơ thể.

       Để biết rõ về sự lan rộng của bệnh và quyết định biện pháp điều trị, bác sĩ luôn yêu cầu làm xét nghiệm máu và nước tiểu và có thể làm một số xét nghiệm sau:

         - Soi bàng quang: bác sĩ quan sát bên trong bàng quang với một dụng cụ chiếu sáng, mảnh.

          - Soi trực tràng: bác sĩ sử dụng một dụng cụ chiếu sáng để kiểm tra trực tràng và phần thấp của đại tràng.

          Hai xét nghiệm này được làm trong phòng mổ với bệnh nhân được gây mê và bác sĩ có thể kiểm tra kĩ khung chậu. Bởi vì ung thư cổ tử cung có thể lan tới bàng quang, trực tràng, hạch bạch huyết, hoặc phổi, nên bác sĩ có thể làm thêm một số xét nghiệm:

- Chụp X-quang: Chụp X quang thường cho thấy liệu ung thư đã lan tràn vào phổi chưa

         - Chụp cắt lớp vi tính (CT scan): Một máy X quang gắn với một máy tính để chụp hàng loạt các ảnh chi tiết của các cơ quan của bệnh nhân. Bệnh nhân có thể được dùng các chất tương phản bằng cách tiêm vào tay, dùng bằng đường miệng hoặc dung dịch thụt. Chất tương phản làm cho các vùng bất thường dễ thấy hơn. Một u ở gan, phổi hay một vị trí nào đó trên cơ thể có thể được nhìn thấy rõ trên chụp cắt lớp vi tính.

         - Chụp cộng hưởng từ hạt nhân (MRI): Một máy từ tính mạnh gắn với một máy tính để chụp các chi tiết của khung chậu. Bác sĩ có thể nhìn thấy các hình ảnh này trên màn hình và có thể in trên phim. Chụp cộng hưởng từ hạt nhân có thể cho biết ung thư đã lan tràn chưa. Đôi khi dùng chất tương phản làm cho các vùng bất thường hiện rõ hơn.

         - Siêu âm: Đầu dò của máy siêu âm được đặt lên thành bụng hoặc đặt vào âm đạo. Máy phóng những sóng âm con người không thể nghe được. Các sóng âm chuyển dịch từ cổ tử cung và các mô ở gần và một máy tính sử dụng âm vang để tạo nên hình ảnh. Các u có thể tạo nên các âm vang khác với các âm vang từ các mô lành. Hình ảnh siêu âm có thể cho biết ung thư đã lan tràn chưa.

 

ĐIỀU TRỊ TỔN THƯƠNG TIỀN UNG THƯ

          Điều trị tổn thương tiền ung thư cổ tử cung phụ thuộc vào một số yếu tố. Các yếu tố này bao gồm tổn thương độ thấp hay độ cao, người phụ nữ muốn có con nữa hay không, tuổi của họ, sức khoẻ toàn trạng, mong muốn của người phụ nữ và bác sĩ của họ.

          Người phụ nữ có tổn thương độ thấp có thể không cần điều trị thêm, đặc biệt nếu vùng bất thường đã được sinh thiết lấy bỏ hoàn toàn, nhưng họ nên xét nghiệm Pap và khám khung chậu đều đặn. Khi cần điều trị tổn thương tiền ung thư, bác sĩ có thể sử dụng phẫu thuật lạnh (áp lạnh), đốt cháy (bỏng, cũng được gọi là nhiệt điện) hoặc phẫu thuật laser để phá huỷ tổ chức bất thường không làm tổn thại đến tổ chức lành gần kề. Bác sĩ cũng có thể lấy bỏ tổ chức bất thường bằng lip (LEEP) hoặc khoét chóp cổ tử cung. Điều trị tổn thương tiền ung thư có thể gây co rút hoặc các đau khác, chảy máu hoặc dịch âm đạo.

          Trong một số trường hợp, người phụ nữ có thể cắt tử cung, nhất là nếu các tế bào bất thường phát hiện ở ống cổ tử cung. Phẫu thuật này có thể được tiến hành hơn khi người phụ nữ không muốn sinh thêm con.

 

ĐIỀU TRỊ UNG THƯ CỔ TỬ CUNG

  Nghe ý kiến thứ hai

Trước khi bắt đầu điều trị, bệnh nhân có thể muốn một nhà giải phẫu bệnh thứ 2 xem lại chẩn đoán và các chuyên gia khác xem lại kế hoạch điều trị. Nhiều phụ nữ bị ung thư cổ tử cung muốn góp phần tích cực vào các quyết định điều trị. Họ muốn hiểu biết nhiều hơn về bệnh và những sự lựa chọn trong điều trị. Tuy nhiên cú sốc và sang chấn tâm lý sau khi nghe chẩn đoán là mắc bệnh ung thư, sẽ rất khó để bệnh nhân có đủ tỉnh táo để tham gia vào việc quyết định các biện pháp điều trị. Người nhà hoặc bạn bè bệnh nhân đi cùng có thể giúp đỡ họ nghe các ý kiến của bác sĩ và giúp họ trong việc lựa chọn rất khó khăn này. Bệnh nhân cũng có thể tìm gặp các bác sĩ khác để nghe thêm ý kiến. Việc này có thể làm mất thời gian nhưng việc điều trị chậm hơn một vài tuần không ảnh hưởng đến kết quả điều trị.

Có một số cách để tìm một bác sĩ người có thể đưa ra ý kiến thứ hai:

Bác sĩ phụ khoa có thể gợi ý một bác sĩ giải phẫu bệnh hoặc một chuyên gia để tư vấn.

Tìm đến các trung tâm tư vấn về ung thư.

Người phụ nữ có thể ghi tên các chuyên gia từ các trường y, bệnh viện gần kề hoặc các tổ chức xã hội về y tế tại địa phương.

Chuẩn bị cho việc điều trị

          Hầu hết phụ nữ bị ung thư cổ tử cung muốn biết tất cả những gì họ có thể về bệnh của họ và các lựa chọn điều trị để họ có thể tham gia vào một phần hoạt động trong quyết định về chăm sóc y học của họ. Các bác sĩ và các nhân viên y tế khác trong nhóm điều trị có thể giúp người phụ nữ học được những gì họ cần biết.

          Khi một người được chẩn đoán là ung thư, sốc và sang chấn tâm lý là các phản ứng tự nhiên. Các cảm giác này có thể gây khó khăn cho bệnh nhân để suy nghĩ về mọi thứ họ muốn để hỏi bác sĩ. Thường nó giúp để làm một danh sách câu hỏi. Cũng vậy, để giúp nhớ những gì bác sĩ nói, các bệnh nhân có thể ghi chép hoặc ghi âm lại nếu họ có thể. Một số người cũng muốn có một thành viên gia đình hoặc bạn bè đi cùng với họ khi họ nói với bác sĩ-để tham gia thảo luận, để ghi chép hoặc chỉ để nghe.

          Các bệnh nhân không nên cảm thấy họ cần hỏi tất cả các câu hỏi hoặc nhớ tất cả các câu trả lời một lúc. Họ sẽ có các cơ hội khác để hỏi bác sĩ để giải thích các vấn đề và để nhận thêm thông tin.

Việc lựa chọn điều trị phụ thuộc chủ yếu vào kích thước u và ung thư đã lan tràn chưa. Nếu người phụ nữ ở tuổi sinh đẻ, việc điều trị có thể còn phụ thuộc vào việc người phụ nữ có muốn có thai nữa hay không.

       Bác sĩ có thể thông báo cho bệnh nhân các biện pháp điều trị có thể được lựa chọn và những kết quả hy vọng đạt được của các phương pháp điều trị khác nhau.

       Để giúp việc lựa chọn có kết quả, bệnh nhân có thể tìm hiểu về các vấn đề. Đây là một vài câu hỏi một phụ nữ bị ung thư cổ tử cung có thể muốn để hỏi bác sĩ trước khi điều trị của họ bắt đầu:

         - Bệnh nhân ở giai đoạn nào của bệnh, ung thư đã lan tràn hay chưa?

         - Các biện pháp điều trị là gì, bệnh nhân được áp dụng một hay hai biện pháp điều trị?

         - Lợi ích hy vọng đạt được của mỗi loại điều trị như thế nào?

         - Các nguy cơ và các tác dụng phụ của mỗi loại điều trị ra sao?

         - Việc điều trị sẽ ảnh hưởng đến các hoạt động bình thường như thế nào?

         - Bệnh nhân phải tự chăm sóc mình sau điều trị như thế nào?

         - Điều trị sẽ kéo dài bao lâu?

         - Điều trị sẽ tốn kém bao nhiêu, bảo hiểm y tế có thanh toán cho việc điều trị không?

          - Sẽ có một thử nghiệm lâm sàng thích hợp đối với tôi?

          - Có thể xảy ra điều gì nếu không điều trị?

         - Phải đi kiểm tra lại sau điều trị như thế nào?

       Trong thực tế ở nước ta hiện nay, do số lượng bệnh nhân quá đông nên các bác sĩ không có thì giờ để trả lời hết các câu hỏi của bệnh nhân. Bệnh nhân có thể lựa chọn những vấn đề chính để hỏi bác sĩ.

 

Các phương pháp điều trị

          Thường hầu hết điều trị ung thư cổ tử cung liên quan tới phẫu thuật và xạ trị. Đôi khi, liệu pháp hoá trị hoặc sinh học được sử dụng. Các bệnh nhân thường được điều trị bởi một nhóm các chuyên gia, bao gồm nhà ung thư phụ khoa và ung thư xạ trị. Các bác sĩ có thể quyết định để sử dụng một phương pháp điều trị hoặc kết hợp các phương pháp. Một số bệnh nhân có thể tham gia một thử nghiệm lâm sàng sử dụng các phương pháp điều trị mới. Các nghiên cứu như thế được thiết kế để cung cấp điều trị ung thư.

Phẫu thuật

       Phẫu thuật là liệu pháp điều trị tại chỗ để lấy bỏ tổ chức bất thường trong hoặc gần cổ tử cung. Nếu ung thư chỉ ở bề mặt cổ tử cung, bác sĩ có thể phá huỷ các tế bào ung thư trong mọi cách giống như các phương pháp được sử dụng để điều trị các tổn thương tiền ung thư. Nếu bệnh đã xâm nhập các lớp cổ tử cung sâu hơn, nhưng không lan ra ngoài cổ tử cung, bác sĩ có thể thực hiện phẫu thuật để lấy bỏ u nhưng để lại tử cung và buồng trứng. Tuy nhiên, trong các trường hợp khác một phụ nữ cần phải cắt cổ tử cung hoặc có thể chọn để có phẫu thuật này. Trong quy trình này, bác sĩ lấy bỏ tử cung hoàn toàn, bao gồm cổ tử cung, đôi khi cắt bỏ cả buồng trứng và vòi trứng. Hơn nữa, bác sĩ có thể nạo vét hạch gần tử cung để xem ung thư đã di căn tới hạch hay chưa.

       Hầu hết các phụ nữ với ung thư sớm cổ tử cung được phẫu thuật cắt bỏ cổ tử cung và tử cung (cắt tử cung toàn bộ). Tuy nhiên với ung thư cổ tử cung giai đoạn rất sớm (giai đoạn 0) có thể không cần thiết cắt toàn bộ tử cung. Các phương pháp có thể lấy đi mô ung thư bao gồm khoét chóp, phẫu thuật lạnh, phẫu thuật laser hoặc lạng mô tử cung bằng quai điện LEEP.

       Một số phụ nữ cần được cắt bỏ tử cung triệt căn (triệt để). Phẫu thuật triệt căn là phẫu thuật cắt bỏ tử cung, cổ tử cung và một phần âm đạo. Trong phẫu thuật triệt căn, bác sĩ còn có thể cắt bỏ cả vòi trứng và buồng trứng.

       Bác sĩ cũng có thể lấy đi các hạch bạch huyết ở gần khối u để xét nghiệm xem hạch có chứa các tế bào ung thư không. Nếu hạch đã có các tế bào ung thư xâm nhập có nghĩa là bệnh đã lan tràn tới các phần khác của cơ thể.

       Bệnh nhân có thể tìm hiểu thêm về các vấn đề sau đây:

Bệnh nhân sẽ được áp dụng loại phẫu thuật nào. Có phải cắt bỏ buồng trứng không?

Có cần nạo vét các hạch và các mô khác không, vì sao?

Sau mổ có bị đau không và nếu đau sẽ được xử trí như thế nào?

Thời gian bệnh nhân phải nằm trong bệnh viện kéo dài bao lâu?

Sau mổ bệnh nhân sẽ gặp những ảnh hưởng gì đến hoạt động bình thường, có gặp các di chứng sau phẫu thuật không? Khi nào có thể trở lại hoạt động bình thường?

Điều trị này có ảnh hưởng như thế nào tới đời sống tình dục của bệnh nhân?

Xạ trị

       Xạ trị sử dụng các tia năng lượng cao để giết các tế bào ung thư và làm ngừng sự phát triển của chúng. Giống như phẫu thuật, xạ trị là liệu pháp tại chỗ. Nó chỉ ảnh hưởng đến các tế bào ở vùng được điều trị. Bệnh nhân có thể chỉ được xạ trị đơn thuần, xạ trị kết hợp với điều trị hoá chất hoặc xạ trị kết hợp với điều trị hoá chất và phẫu thuật. Bác sĩ có thể chỉ định xạ trị thay cho phẫu thuật ở một số ít bệnh nhân không thể phẫu thuật được vì lý do sức khoẻ. Hầu hết các bệnh nhân có ung thư lan tràn ra ngoài cổ tử cung được điều trị tia xạ và hoá chất.

       Tia xạ có thể phát sinh từ một máy lớn (tia xạ bên ngoài) hoặc các chất sinh phóng xạ được đặt trực tiếp trong tử cung (tia xạ cấy ghép). Các bác sĩ sử dụng hai loại xạ trị này để điều trị ung thư cổ tử cung. Một số bệnh nhân được áp dụng cả hai loại xạ trị.

       Xạ trị ngoài. Xạ trị ngoài có nguồn tia từ một máy lớn ngoài cơ thể. Bệnh nhân thường được điều trị ngoại trú (không phải nằm lại trong bệnh viện). Bệnh nhân được xạ trị 5 ngày một tuần và trong nhiều tuần (khoảng 5-6 tuần).

       Xạ trị trong hoặc cấy ghép. Một ống nhỏ có chứa chất phóng xạ được đặt trực tiếp trong cổ tử cung. Sự cấy ghép đặt các tia giết tế bào ung thư gần khối u trong khi bảo tồn hầu hết tổ chức lành quanh đó. Ống này thường đặt ở đó 1-3 ngày. Bệnh nhân phải nằm trong bệnh viện. Để bảo vệ những người khác khỏi bị nhiễm xạ, trong thời gian nằm viện, người nhà không được vào thăm hoặc chỉ được vào thăm trong một thời gian ngắn. Sau khi ống xạ đã được lấy ra, không còn chất phóng xạ trong người bệnh nhân. Xạ trị trong có thể được nhắc lại hai hoặc nhiều lần hơn trong nhiều tuần.

Bệnh nhân có thể tìm hiểu sâu hơn để biết trước khi xạ trị:

Mục đích của xạ trị là gì?

Xạ trị sẽ được sử dụng như thế nào?

Bệnh nhân có phải nằm lại trong bệnh viện không? Thời gian kéo dài bao lâu?

Khi nào bắt đầu điều trị, khi nào kết thúc?

Bệnh nhân cảm thấy như thế nào trong quá trình điều trị, có tác dụng phụ không?

Làm thế nào để biết là xạ trị có tác dụng?

Bệnh nhân có thể tiếp tục các hoạt động bình thường trong lúc điều trị không? Họ cần phải làm gì để tự chăm sóc mình trong quá trình điều trị?

Xạ trị có ảnh hưởng đến đời sống tình dục không?

Bệnh nhân có thể có mang và sinh con sau xạ trị không?

Điều trị hoá chất

       Điều trị hoá chất (hay còn gọi là hoá trị). Hoá trị sử dụng các thuốc chống ung thư để giết các tế bào ung thư. Hoá trị còn được gọi là điều trị hệ thống vì thuốc đi vào dòng máu và ảnh hưởng đến tất cả các tế bào của cơ thể. Để điều trị ung thư cổ tử cung, hoá trị thường được kết hợp với xạ trị. Thường sử dụng điều trị hoá chất khi ung thư cổ tử cung đã lan tới các phần khác của cơ thể. Bác sĩ có thể sử dụng một thuốc hoặc kết hợp nhiều thuốc.

       Các thuốc chống ung thư dùng điều trị ung thư cổ tử cung thường được dùng theo đường tĩnh mạch. Bệnh nhân thường được điều trị ngoại trú, hiếm khi bệnh nhân phải nằm lại trong bệnh viện. Tuy nhiên, tuỳ theo loại thuốc được sử dụng và sức khoẻ toàn trạng của bệnh nhân, họ có thể cần ở lại bệnh viện trong thời gian điều trị.

          Hoá chất được đưa theo chu kì: một đợt điều trị được tiếp theo bởi một khoảng thời gian phục hồi, rồi thì tới một đợt điều trị khác.

       Để hiểu rõ thêm về điều trị hoá chất, bệnh nhân có thể tìm hiểu các vấn đề sau đây:

Vì sao phải điều trị hoá chất?

Loại thuốc nào sẽ được sử dụng, một loại hay nhiều loại?

Thuốc sẽ tác động như thế nào?

Các kết quả hy vọng đạt được là gì?

Các nguy cơ và tác dụng phụ của điều trị là gì? Họ có thể làm gì với chúng?

Khi nào bắt đầu điều trị và khi nào kết thúc?

Điều trị hoá chất sẽ ảnh hưởng đến các hoạt động bình thường như thế nào?

Điều trị sinh học

          Điều trị sinh học là điều trị sử dụng các chất để cải thiện hệ thống miễn dịch của cơ thể chống lại bệnh. Nó có thể được sử dụng để điều trị ung thư đã lan tràn tới các phần khác của cơ thể. Interferon là loại điều trị sinh học phổ biến nhất đối với ung thư cổ tử cung. Nó được sử dụng kết hợp với hoá chất. Bệnh nhân chỉ cần điều trị ngoại trú.

 

CÁC THỬ NGHIỆM LÂM SÀNG

          Một số bệnh nhân bị ung thư cổ tử cung được điều trị bằng các thử nghiệm lâm sàng. Bác sĩ sử dụng các thử nghiệm lâm sàng để tìm ra một phương pháp điề trị mới vừa an toàn và vừa hiệu quả và để trả lời các câu hỏi khoa học. Bệnh nhân tham gia vào các nghiên cứu này đầu tiên nhận được các điều trị mà đã thấy rõ sự hứa hẹn trong các nghiên cứu thí nghiệm. Một vài bệnh nhân có thể nhận được điều trị mới trong khi các bệnh nhân khác nhận sự điều trị kinh điển. Trong cách này, các bác sĩ có thể so sánh các liệu pháp khác nhau. Các bệnh nhân tham gia vào thử nghiệm góp một phần quan trọng tới y học và có thể có cơ hội đầu tiên được hưởng lợi ích tử các phương pháp điều trị được cải tiến.

          Các thử nghiệm lâm sàng của phương pháp mới đối với ung thư cổ tử cung cũng theo phương pháp này. Các bác sĩ đang nghiên cứu các loại mới và kế hoạch xạ trị. Họ cũng đang tìm các thuốc mới, sự kết hợp thuốc và cách kết hợp các loại điều trị khác nhau.

 

CÁC TÁC DỤNG PHỤ CỦA ĐIỀU TRỊ

       Thật khó để hạn chế các tác dụng phụ của điều trị để chỉ các tế bào ung thư được lấy đi hoặc được phá huỷ. Vì điều trị ung thư thường làm hư hại các tế bào và mô lành, các tác dụng phụ không mong muốn là phổ biến. Các tác dụng phụ phụ thuộc chủ yếu vào loại và sự lan rộng của điều trị. Các tác dụng phụ có thể không giống nhau với mỗi bệnh nhân và có thể thay đổi theo từng đợt điều trị. Trước khi điều trị, có thể bác sĩ cho biết các tác dụng phụ có thể có và gợi ý các phương pháp xử lý các tác dụng phụ xảy ra trong và sau điều trị. Điều quan trọng là báo cho bác sĩ biết nếu có bất kì tác dụng phụ nào xảy ra.

Phẫu thuật

       Phải mất thời gian để lành vết thương và hồi phục sau phẫu thuật. Thời gian hồi phục sau phẫu thuật khác nhau với mỗi bệnh nhân. Bệnh nhân có thể cảm thấy khó chịu trong những ngày đầu. Tuy nhiên thuốc thường giúp kiểm soát đau. Bác sĩ thường cho thuốc giảm đau khi cần thiết.

       Các phương pháp để lấy bỏ hoặc phá huỷ ung thư nhỏ trên bề mặt cổ tử cung, giống như các phương pháp được ử dụng để điều trị các tổn thương tiền ung thư. Điều trị có thể gây chuột rút, hoặc các đau khác, chảy máu hay chảy dịch.

       Cắt bỏ tử cung là phẫu thuật chính, bệnh nhân sẽ phải nằm lại trong bệnh viện nhiều ngày đến một tuần. Bệnh nhân có thể thấy mệt và yếu trong một thời gian ngắn. Bệnh nhân cũng có thể bị buồn nôn hoặc nôn. Khoảng một vài ngày sau phẫu thuật, người phụ nữ có thể bị đau ở bụng dưới. Bác sĩ có thể cho thuốc để giảm đau. Một người phụ nữ có thể bí đái và có thể cần đặt ống thông tiểu vào bàng quang để dẫn lưu nước tiểu trong vài ngày sau điều trị. Họ cũng có thể có vấn đề về đại tiện. Bác sĩ có thể hạn chế chế độ ăn và uống, sau đó dần dần trở lại ăn thức ăn đặc. Trong một khoảng thời gian sau phẫu thuật, các hoạt động của người phụ nữ nên được hạn chế để cho phép hàn gắn vết mổ. Các hoạt động bình thường bao gồm cả hoạt động tình dục, luôn có thể được bắt đầu lại trong 4-8 tuần.

       Sau cắt bỏ tử cung, phụ nữ không còn hành kinh nữa và không thể có mang. Tuy nhiên nhu cầu về tình dục và khả năng giao hợp luôn không bị ảnh hưởng bởi cắt tử cung. Nói một cách khác, nhiều phụ nữ có một thời gian khó khăn về cảm xúc sau phẫu thuật này. Thái độ về tình dục của người phụ nữ có thể thay đổi và họ cảm thấy mất cảm xúc bởi vì học không còn khả năng sinh con nữa. Lúc này, chồng hoặc bạn tình của họ có hiểu biết là quan trọng. Người phụ nữ có thể muốn thảo luận vấn đề này với bác sĩ, nhân viên y tế hoặc thành viên tăng lữ của họ.

       Sau khi các buồng trứng bị cắt bỏ, mãn kinh xảy ra ngay. Các cơn bốc nóng và các triệu chứng khác của mãn kinh gây nên do phẫu thuật có thể nặng hơn so với những triệu chứng gây nên do mãn kinh tự nhiên. Bệnh nhân có thể hỏi bác sĩ để biết rõ hơn những thay đổi ở phụ nữ sau phẫu thuật cắt bỏ cả hai buồng trứng. Một số thuốc có thể làm giảm các biểu hiện này và có thể có hiệu quả hơn khi bắt đầu dùng thuốc trước phẫu thuật.

Xạ trị

       Các tác dụng phụ của xạ trị phụ thuộc chủ yếu vào liều xạ và phần cơ thể được điều trị. Bệnh nhân có thể rất mệt trong quá trình xạ trị, đặc biệt vào những tuần cuối của đợt điều trị. Nghỉ ngơi là quan trọng nhưng bác sĩ luôn khuyên các bệnh nhân cố gắng duy trì những hoạt động ở mức có thể được.

- Xạ trị bên ngoài: Xạ trị vào ổ bụng và vùng khung chậu có thể gây nên nôn, buồn nôn, ỉa chảy và rối loạn tiểu tiện. Bệnh nhân có thể bị rụng lông ở vùng sinh dục. Da vùng điều trị cũng có thể bị đỏ, khô, ngứa và căng. Có thể có sạm da vĩnh viễn hoặc “da màu đồng” ở vùng được điều trị. Vùng này nên được tiếp xúc với không khí khi có thể nhưng được bảo vệ khỏi ánh sáng mặt trời và các bệnh nhân nên tránh mặc quần áo mà nó cọ xát vùng được điều trị. Các bệnh nhân sẽ được chỉ cho cách giữ sạch vùng da. Họ không nên sử dụng bất kì một loại kem hoặc nước thơm nào trên da của họ không có lời khuyên của bác sĩ.

       Bệnh nhân cũng có thể bị khô, ngứa hoặc bỏng ở âm đạo. Xạ trị cũng có thể làm cho âm đạo hẹp hơn và kém co giãn hơn, giao hợp có thể gây đau. Bác sĩ có thể hướng dẫn cho bệnh nhân làm giảm bớt những khó chịu này. Cũng có thể có cách làm giãn âm đạo để những lần khám lại sau dễ dàng hơn. Bệnh nhân có thể được dạy cách sử dụng cái panh cũng như chất bôi trơn để giúp làm giảm tối thiểu vấn đề này. Bệnh nhân cũng cần tránh giao hợp trong quá trình điều trị hoặc trong khi đang đặt chất phóng xạ. Tuy nhiên, bệnh nhân có thể hoạt động tình dục vào ít tuần sau khi kết thúc đợt điều trị.

       Các bệnh nhân được áp dụng xạ trị bên ngoài hay xạ trị bên trong cũng có thể bị ỉa chảy và thường rối loạn tiểu tiện. Bác sĩ có thể đề xuất hoặc sử dụng thuốc để kiểm soát các vấn đề này.

Mặc dù những tác dụng phụ của xạ trị có thể làm cho bệnh nhân lo lắng, thường thì các bác sĩ có thể làm công tác tư tưởng cho bệnh  nhân yên tâm.

Hoá trị

       Các tác dụng phụ của điều trị hoá chất chủ yếu phụ thuộc vào các thuốc đặc hiệu và liều mà bệnh nhân nhận được. Hơn nữa, cũng như các loại điều trị khác, tác dụng phụ rất khác nhau giữa các bệnh nhân. Các thuốc ảnh hưởng đến các tế bào ung thư và các tế bào phân chia nhanh khác.

         - Các tế bào máu: Các tế bào này chống nhiễm khuẩn, giúp cầm máu và mang oxy tới tất cả các phần của cơ thể. Khi thuốc gây ảnh hưởng tới các tế bào máu, bệnh nhân có thể dễ bị nhiễm khuẩn, bị các vết thâm tím hoặc dễ bị chảy máu và cảm thấy rất yếu và mệt mỏi.

         - Các tế bào chân tóc: hoá trị có thể gây nên rụng tóc. Tóc sẽ mọc lại nhưng có thể bị thay đổi về màu sắc và kiểu tóc.

         - Các tế bào niêm mạc đường tiêu hoá: Hoá trị có thể gây nên chán ăn, buồn nôn và nôn, ỉa chảy, đau miệng và môi.

         - Các thuốc sử dụng điều trị ung thư cổ tử cung cũng có thể gây nên ban đỏ ở da, nghe kém, mất thăng bằng, đau khớp và sưng các ngón chân và chân

       Bác sĩ có thể giúp cho bệnh nhân cách kiểm soát những tác dụng phụ này. Các tác dụng phụ hết từ từ trong khoảng thời gian hồi phục giữa điều trị hoặc sau dừng điều trị.

Liệu pháp sinh học

          Các tác dụng phụ có thể bị gây ra bởi liệu pháp sinh học khác với loại điều trị mà bệnh nhân nhân được. Điều trị này có thể gây các hội chứng giống cúm như ớn lạnh, sốt, đau cơ, mệt, ăn không ngon, nôn, buồn nôn và ỉa chảy. Một số bệnh nhân bị ban đỏ và họ có thể bị chảy máu hoặc bầm tím dễ dàng. Các vấn đề này có thể là nặng, nhưng chúng sẽ từ từ hết sau khi ngừng điều trị.

 

THUỐC BỔ TRỢ VÀ THAY THẾ

       Một số người bị ung thư sử dụng thuốc bổ trợ và thay thế để làm giảm sự sang chấn tâm lý (stress) và làm giảm các tác dụng phụ và các triệu chứng.

Một số thuốc được gọi là bổ trợ khi nó được sử dụng cùng với các phương pháp thông thường

Một số thuốc được gọi là thuốc thay thế khi nó được sử dụng thay cho các cách điều trị thông thường (chuẩn mực)

       Châm cứu, xoa bóp, các sản phẩm thảo dược, các sinh tố hoặc các chế độ ăn đặc biệt, chữa bệnh tâm linh là những hình thức điều trị bổ trợ và thay thế. Nhiều người nói rằng các phương pháp chữa bệnh này làm cho họ cảm thấy dễ chịu hơn.

       Tuy nhiên một số loại điều trị bổ trợ và thay thế bao gồm một số vitamin có thể ảnh hưởng đến việc điều trị thường quy.

       Kết hợp điều trị bổ trợ và thay thế với điều trị chuẩn thậm chí có thể có hại. Trước khi thử bất kỳ một phương pháp điều trị bổ trợ và thay thế nào, cần hỏi bác sĩ về các lợi ích có thể đạt được và các tác hại của nó.

 

DINH DƯỠNG

       Cần phải ăn tốt trong khi điều trị ung thư. Ăn tốt nghĩa là có đủ năng lượng để duy trì cân nặng và đủ protein để giữ cho cơ thể có sức khoẻ. Ăn tốt thường giúp cho người bị ung thư cảm thấy thoải mái hơn, dồi dào sức lực hơn. Hơn nữa, họ ó thể đối chọi tốt hơn với các tác dụng phụ của điều trị.

       Tuy nhiên việc ăn tốt có thể là một khó khăn. Bệnh nhân có thể không muốn ăn nếu họ cảm thấy khó chịu và mệt mỏi. Đồng thời các tác dụng phụ của điều trị (chẳng hạn như chán ăn, nôn, buồn nôn và đau miệng) có thể là một khó khăn. Một số người thấy mất khẩu vị trong khi điều trị ung thư.

       Các bác sĩ, y tá, các nhà dinh dưỡng có thể đưa ra lời khuyên giúp bệnh nhân duy trì một chế độ ăn khoẻ mạnh trong quá trình điều trị ung thư.

 

THEO DÕI

       Theo dõi sau điều trị ung thư cổ tử cung là quan trọng. Ngay cả khi ung thư hình như đã được loại bỏ hoặc bị phá huỷ hoàn toàn, bệnh đôi khi trở lại vì các tế bào ung thư không được phát hiện có thể còn lại đâu đó trong cơ thể. Bác sĩ sẽ theo dõi sự hồi phục cho bệnh nhân và kiểm tra ung thư tái phát. Việc theo dõi giúp đảm bảo bất kỳ một thay đổi nào về sức khoẻ của bệnh nhân đều được ghi nhận và điều trị khi cần thiết. Việc kiểm tra bao gồm khám cũng như xét nghiệm Pap, chụp X- quang và các xét nghiệm khác. Điều này là rất quan trọng đối với mọi bệnh nhân đã được điều trị các thay đổi tiền ung thư hoặc ung thư cổ tử cung. Các bác sĩ sẽ làm các xét nghiệm này và khám thường xuyên trong nhiểu năm để kiểm tra bất kì một dấu hiệu nào biểu hiện bệnh quay trở lại.

Giữa các thời điểm kiểm tra định kỳ theo kế hoạch, bệnh nhân cần đi khám kiểm tra lại khi có vấn đề về sức khoẻ. Điều trị ung thư có thể gây các tác dụng phụ nhiều năm sau. Vì lý do này, các bệnh nhân nên tiếp tục kiểm tra đều đặn và nên báo cáo các biểu hiện vấn đề sức khoẻ.

 

TƯƠNG LAI NẮM GIỮ ĐIỀU GÌ

Gần như tất cả các bệnh nhân có ung thư cổ tử cung ở gia đoạn sớm được phát hiện bằng xét nghiệm Pap có thể được điều trị khỏi. Khi được phát hiện sớm, nó có thể dễ dàng được điều trị và tránh khỏi nguy hiểm bị ung thư cổ tử cung. Hãy đi xét nghiệm Pap đều đặn   !

Tiên lượng đối với các bệnh nhân có các biến đổi tiền ung thư của cổ tử cung hoặc ung thư cổ tử cung rất sớm là tuyệt vời. Gần như tất cả các bệnh nhân này có thể được điều trị khỏi. Các nhà nghiên cứu tiếp tục tìm các cách mới và tốt hơn để điều trị ung thư cổ tử cung xâm nhập.

Theo bản chất, các bệnh nhân và gia đình của họ quan tâm đến những gì xảy ra trong tương lai. Đôi khi, các bệnh nhân sử dụng các thống kê để cố gắng tính toán các cơ hội được chữa khỏi của họ. Tuy nhiên, điều quan trọng để nhớ rằng các thông kê này là các số trung bình, được dựa vào một số lượng lớn bệnh nhân. Chúng không thể được sử dụng để dự báo những gì sẽ xảy ra với một phụ nữ cá biệt nào bởi vì không có 2 bệnh nhân giống nhau; điều trị và đáp ứng khác nhau rất nhiều. Bác sĩ điều trị cho bệnh nhân và biết tiền sử bệnh của họ là người tốt nhất để nói cho bệnh nhân về cơ hội hồi phục của họ (tiên lượng bệnh).

Bác sĩ thường nói về thời gian sống thêm hoặc họ có thể sử dụng thuật ngữ sự thuyên giảm hơn là khỏi bệnh. Mặc dù nhiều phụ nữ bị ung thư cổ tử cung hồi phục hoàn toàn. Bác sĩ sử dụng thuật ngữ này bởi vì bệnh có thể tái phát (sự trở lại của ung thư được gọi là sự tái phát).

 

SỰ HỨA HẸN CỦA NGHIÊN CỨU UNG THƯ

       Bác sĩ ở nhiều nước trên thế giới đang tiến hành nhiều nghiên cứu thử nghiệm lâm sàng (nghiên cứu trong những người tình nguyện tham gia). Họ đang nghiên cứu các phương pháp mới để điều trị ung thư. Một số nghiên cứu đang được tiến hành nhằm cải thiện chất lượng sống cho phụ nữ trong và sau điều trị ung thư. Các thử nghiệm lâm sàng nhằm trả lời những câu hỏi quan trọng và xác định xem các phương pháp mới có an toàn và hiệu quả không. Các nghiên cứu đã đạt được nhiều tiến bộ và các nhà nghiên cứu tiếp tục tìm kiếm các phương pháp có hiệu quả hơn để điều trị ung thư.

       Các nhà nghiên cứu đang thử nghiệm các phương pháp mới để điều trị bao gồm các thuốc chống ung thư và các cách kết hợp thuốc. Họ cũng đang nghiên cứu các phương pháp khác nhau, liều và kế hoạch xạ trị. Một số thử nghiệm đang kết hợp hoá trị, phẫu thuật và xạ trị. Các thử nghiệm khác đang tìm kiếm liệu pháp sinh học.

       Các nhà nghiên cứu cũng đang thử nghiệm phẫu thuật lấy hạch cửa. Hạch cửa là hạch bạch huyết đầu tiên ung thư có thể lan tràn đến. Ngày nay các bác sĩ phẫu thuật đang lấy nhiều hạch và kiểm tra từng hạch xem có bị di căn ung thư không. Nhưng nếu các nhà nghiên cứu chỉ rõ rằng có thể xác định được hạch cửa (hạch hay bị di căn nhất) không có di căn, bác sĩ có thể tránh được phẫu thuật rộng hơn để lấy các hạch bạch huyết khác.

       Những người tham gia các thử nghiệm lâm sàng có thể là những người đầu tiên được hưởng lợi ích nếu một phương pháp mới có hiệu quả. Thậm chí nếu những người tham gia không được hưởng lợi ích một cách trực tiếp, họ sẽ có đóng góp quan trọng cho y học giúp các bác sĩ hiểu biết nhiều hơn về bệnh và kiểm soát chúng như thế nào. Mặc dù các thử nghiệm lâm sàng có thể gặp một số rủi ro, các nhà nghiên cứu đang làm tất cả những gì cần thiết để bảo vệ bệnh nhân của mình.

 

 

HỖ TRỢ CHO BỆNH NHÂN UNG THƯ

        Sống với một bệnh trầm trọng không phải dễ dàng. Bệnh nhân ung thư và những người chăm sóc họ phải đối mặt với nhiều khó khăn và thách thức. Đối mặt với những vấn đề này thường dễ dàng hơn khi người ta có những thông tin hữu ích và sự hỗ trợ.

        Những bệnh nhân ung thư có thể lo lắng về duy trì việc làm của mình, chăm sóc gia đình của họ, duy trì các hoạt động hàng ngày hoặc bắt đầu những mối quan hệ mới. Những lo lắng về việc làm các xét nghiệm, việc điều trị, việc phải nằm lại trong bệnh viện, việc thanh toán tiền viện phí là phổ biến. Việc các bác sĩ, các điều dưỡng viên sẵn lòng trả lời cho bệnh nhân các câu hỏi về việc điều trị, việc làm và các hoạt động của họ là rất hữu ích cho bệnh nhân.

Các bạn bè và những người thân cũng có thể hỗ trợ họ rất nhiều. Việc nhiều bệnh nhân trao đổi những băn khoăn lo lắng của mình với những người khác mắc ung thư cũng rất hữu ích. Các bệnh nhân ung thư có thể chia sẻ với nhau về những điều họ đã học được về việc đối mặt với ung thư và những hiệu quả của điều trị. Tuy nhiên, việc điều trị và các cách đối phó với ung thư có thể phù hợp với người này nhưng không phù hợp với người khác, ngay cả nếu họ có cùng loại ung thư. Cách tốt nhất là bệnh nhân trao đổi những lời khuyên của bạn bè và các thành viên trong gia đình với các bác sĩ.

 

KẾT LUẬN

        Việc hiểu biết của chị em phụ nữ về ung thư cổ tử cung và các biện pháp dự phòng là cần thiết và có ý nghĩa quan trọng. Chị em phụ nữ cần có hiểu biết về xét nghiệm Pap để phát hiện những biến đổi bất thường của cổ tử cung khi nó còn có thể điều trị khỏi dễ dàng và để đề phòng ung thư ở giai đoạn muộn và chết vì ung thư cổ tử cung.

Nếu ung thư được phát hiện sớm qua xét nghiệm Pap, nó có thể được điều trị dễ dàng và chữa khỏi bệnh. Người phụ nữ phải tự bảo vệ sức khoẻ cho mình để bảo vệ hạnh phúc gia đình. Cần nhớ rằng, sàng lọc bệnh cổ tử cung và xét nghiệm tế bào học Pap là cách tốt nhất để dự phòng ung thư cổ tử cung, một nguyên nhân của tử vong do ung thư ở phụ nữ Việt Nam. Để có hiểu biết thêm về xét nghiệm Pap hoặc tổ chức khám sàng lọc ung thư cổ tử cung, chị em có thể liên hệ với Trung tâm nghiên cứu và phát hiện sớm ung thư hoặc các cơ sở y tế khác.

                        

 

PHẦN II: UNG THƯ TỬ CUNG

 

ĐẶT VẤN ĐỀ

Ung thư của tử cung cũng là loại ung thư phổ biến nhất của đường sinh dục.

       Tử cung là gì? Tử cung là một cơ quan rỗng, hình quả lê. Nó nằm ở bụng dưới của phụ nữ, giữa bàng quang và trực tràng. Dính ở hai sừng tử cung là hai vòi trứng, nó kéo dài từ tử cung đến buồng trứng (hình7).

       Phần hẹp thấp hơn của tử cung là cổ tử cung, phần rộng nằm giữa là thân tử cung, phần trên hình vòm là đáy tử cung. Thành tử cung được tạo thành bởi hai lớp mô. Lớp trong mỏng được gọi là nội mạc và lớp ngoài hoặc cơ tử cung.

       Những phụ nữ ở tuổi sinh đẻ, lớp màng trong (nội mạc) phát triển và dày lên mỗi tháng và nó chuẩn bị cho việc có mang. Nếu phụ nữ không có mang, lớp mô dày liền bong ra cùng với máu chảy qua âm đạo được gọi là hành kinh.
Hỡnh 7: Giải phẫu của tử cung

UNG THƯ LÀ GÌ?

       Ung thư là một nhóm của nhiều bệnh khác nhau có một số đặc điểm quan trọng chung. Chúng đều ảnh hưởng đến các tế bào, đơn vị sống cơ bản của cơ thể. Để hiểu về ung thư, cần phải hiểu về các tế bào bình thường và về điều gì xảy ra khi các tế bào trở thành ung thư.

       Cơ thể được tạo thành bởi nhiều loại tế bào. Bình thường các tế bào phát triển và phân chia để tạo thành nhiều tế bào mới chỉ khi cơ thể cần chúng. Quá trình có trật tự này giúp giữ cho cơ thể khoẻ mạnh. Đôi khi các tế bào duy trì sự phân chia trong khi các tế bào mới là không cần thiết. Một khối mô thừa được tạo thành được gọi là khối u. Các khối u có thể lành tính hay ác tính.

       Các u lành tính không phải là ung thư. Chúng thường được cắt bỏ và trong nhiều trường hợp, chúng không tái phát (phát triển trở lại). Các tế bào từ các u lành không lan ra các phần khác của cơ thể. Quan trọng nhất là các u lành không đe doạ đến đời sống.

       Các u cơ (hoặc u xơ cơ) là các u lành phổ biến của cơ tử cung. Các u này không phát triển thành ung thư. Các u xơ cơ tử cung được tìm thấy chủ yếu ở lứa tuổi 40. Người phụ nữ có thể có nhiều u xơ đồng thời. Trong nhiều trường hợp các u xơ không gây triệu chứng và không cần điều trị, mặc dù chúng cần được bác sĩ theo dõi và kiểm tra. Tuy nhiên phụ thuộc vào vị trí và kích thước của u, đôi khi các triệu chứng xảy ra. Các triệu chứng này có thể bao gồm kinh nguyệt không đều, chảy dịch âm đạo và đi tiểu nhiều. Khi u xơ gây chảy máu nặng hoặc đè ép vào các cơ quan ở gần và gây đau, phẫu thuật hoặc các phương pháp điều trị khác có thể được đặt ra. Khi người phụ nữ đã mãn kinh, các u xơ thường trở nên nhỏ hơn và đôi khi biến mất.

       Lạc nội mạc tử cung là một trạng thái lành tính khác ảnh hưởng đến tử cung.

         - Nó không phát triển thành ung thư.

         - Lạc nội mạc tử cung gặp chủ yếu ở các phụ nữ ở các tuổi ba mươi và bốn mươi, đặc biệt ở những phụ nữ chưa bao giờ có mang.

         - Nó xảy ra khi mô nội mạc bắt đầu phát triển trong lớp cơ, ở ngoài tử cung hoặc trên các cơ quan ở gần.

         - Trạng thái này có thể gây nên các chu kỳ kinh đau nhiều, chảy máu âm đạo bất thường, và đôi khi không có mang được.

         - Các phương pháp điều trị gồm điều trị nội tiết và phẫu thuật.

       Quá sản nội mạc tử cung (sinh sản quá nhiều): cũng là một trạng thái lành tính, là một tăng số lượng các tế bào phủ mặt trong tử cung.

         - Mặc dù không phải là ung thư, quá sản nội mạc được coi là trạng thái tiền ung thư.

         - Trong một số trường hợp, nó có thể phát triển thành ung thư.

         - Các triệu chứng phổ biến của quá sản nội mạc tử cung là chu kỳ kinh kéo dài, chảy máu giữa các kỳ kinh và chảy máu sau mãn kinh.

         - Việc điều trị thường là cắt tử cung hoặc điều trị nội tiết tố bằng progesteron phụ thuộc vào sự lan rộng của tổn thương và người phụ nữ có muốn có mang không.

       Các u ác tính là ung thư (hình8). Các tế bào ung thư có thể xâm nhập và phá huỷ các mô và các cơ quan ở gần u. Đồng thời các tế bào ung thư có thể tách khỏi u ác tính và đi vào dòng máu và hệ thống bạch huyết. Hậu quả là ung thư lan tràn từ u nguồn gốc (nguyên phát) để tạo thành các u mới trong các phần khác của cơ thể. Sự lan tràn của ung thư được gọi là di căn.

       Hầu hết các ung thư được gọi bằng tên của phần cơ thể trong đó nó bắt đầu. Loại phổ biến nhất của ung thư tử cung bắt đầu trong nội mạc. Loại này của ung thư được gọi là ung thư nội mạc hay ung thư tử cung. Trong cuốn sách này, chúng tôi dùng thuật ngữ ung thư tử cung thay cho ung thư bắt đầu trong nội mạc tử cung. Một loại khác của ung thư, sa- côm tử cung, phát triển trong cơ tử cung. Trong cuốn sách này, chúng tôi không đề cập đến sa- côm tử cung.

       Khi ung thư tử cung phát triển, nó xâm nhập vào các cơ quan ở gần. Các tế bào ung thư tử cung cũng có thể tách rời khỏi u và lan tràn tới các phần khác của cơ thể như phổi, gan và các xương. Khi ung thư lan tràn tới một phần khác của cơ thể, ung thư mới có các tế bào bất thường cùng loại và cùng tên với ung thư nguồn gốc (nguyên phát). Ví dụ, nếu ung thư tử cung lan tràn tới phổi, các tế bào ung thư trong u mới là các tế bào ung thư tử cung. Ung thư lan tràn từ tử cung đến các phần khác của cơ thể được gọi là ung thư tử cung di căn. Nó không phải là ung thư phổi.Hình 8: Ung thư cổ tử cung

TRIỆU CHỨNG CỦA UNG THƯ TỬ CUNG

       Chảy máu âm đạo bất thường, đặc biệt là sau mãn kinh là triệu chứng phổ biến nhất của ung thư tử cung.

Chảy máu có thể bắt đầu như nước, chảy máu thành vệt máu ngày càng chứa nhiều máu hơn.

Mặc dù ung thư tử cung thường xảy ra sau mãn kinh, đôi khi nó xảy ra xung quanh thời gian mãn kinh.

Chảy máu bất thường không được coi một cách đơn giản là một phần của mãn kinh, cần được bác sĩ kiểm tra.

       Một phụ nữ cần đi khám khi có một trong những triệu chứng sau đây:

Chảy máu hoặc chảy dịch bất thường

Đi tiểu khó hoặc đau

Đau trong khi giao hợp

Đau vùng khung chậu

       Những triệu chứng này có thể do ung thư gây nên hoặc các bệnh khác ít trầm trọng hơn. Hầu hết chúng không phải là ung thư, nhưng chỉ có bác sĩ mới xác định được.

 

CHẨN ĐOÁN

       Nếu một phụ nữ có các triệu chứng này, các bác sĩ thường hỏi thêm về tiền sử (các bệnh có từ trước), tiến hành khám thực thể. Cùng với việc kiểm tra các dấu hiệu chung về sức khoẻ, bác sĩ thường thực hiện các xét nghiệm máu và nước tiểu và một hoặc nhiều các phương pháp sau đây:

         - Bác sĩ thực hiện khám vùng khung chậu, kiểm tra âm đạo, tử cung, buồng trứng, bàng quang, trực tràng. Bác sĩ kiểm tra các cơ quan này xem có u không hoặc những thay đổi về hình dạng và kích thước của chúng. Một dụng cụ được gọi là mỏ vịt được sử dụng để mở rộng âm đạo và vì vậy bác sĩ có thể nhìn thấy rõ phần trên âm đạo và cổ tử cung.

         - Xét nghiệm Pap được thực hiện trong quá trình khám vùng khung chậu (khám phụ khoa). Bác sĩ sử dụng một que quệt bằng gỗ hoặc một bàn chải nhỏ để lấy mẫu các tế bào cổ tử cung và phần trên âm đạo. Các mẫu tế bào sau đó được gửi đến phòng xét nghiệm để kiểm tra những thay đổi bất thường. Vì ung thư tử cung bắt đầu ở bên trong tử cung, nó không thể được phát hiện trên xét nghiệm Pap.

         - Sinh thiết là cần thiết để giúp bác sĩ chẩn đoán. Sinh thiết được thực hiện tại bệnh viện. Khi sinh thiết, bác sĩ lấy mẫu mô từ nội mạc (màng trong) tử cung. Trong một số trường hợp bác sĩ nong rộng cổ tử cung và nạo buồng tử cung để lấy mẫu mô của nội mạc tử cung. Bác sĩ giải phẫu bệnh sẽ xét nghiệm mô để kiểm tra các tế bào ung thư, quá sản và các bệnh khác. Sau khi nong và nạo buồng tử cung, bệnh nhân có thể bị co thắt tử cung và chảy máu âm đạo, song quá trình này khỏi dần.

       Khi cần sinh thiết, bệnh nhân có thể tìm hiểu thêm các vấn đề sau đây:

Loại sinh thiết nào sẽ được thực hiện?

Sinh thiết mất bao lâu?

Sau bao lâu sẽ biết kết quả?

 

XÁC ĐỊNH GIAI ĐOẠN BỆNH

       Một khi ung thư cổ tử cung được chẩn đoán, bác sĩ cần biết giai đoạn hoặc sự lan rộng để lập kế hoạch điều trị tốt nhất. Các phương pháp định giai đoạn giúp bác sĩ tìm kiếm xem ung thư đã lan tràn chưa và nếu đã lan tràn thì phần nào của cơ thể bị xâm nhập. Với hầu hết các phụ nữ, việc định giai đoạn gồm xét nghiệm máu và nước tiểu và chụp phim lồng ngực. Bác sĩ cũng có thể yêu cầu chụp cắt lớp vi tính, chụp cộng hưởng từ hạt nhân, soi đại tràng sigma, soi đại tràng, siêu âm và các xét nghiệm X- quang khác.

 

ĐIỀU TRỊ

       Sau khi chẩn đoán và đánh giá ban đầu, bác sĩ xem xét các phương pháp điều trị cho từng bệnh nhân và có thể báo cho bệnh nhân biết các dự định điều trị. Sự lựa chọn điều trị phụ thuộc vào kích thước khối u, giai đoạn bệnh, xem xét liệu nội tiết tố nữ giới có ảnh hưởng đến sự phát triển của u và độ u không. Độ u (hay còn gọi là độ mô học của u) phản ánh ung thư giống các tế bào bình thường cùng loại đến mức nào và gợi ý ung thư phát triển nhanh như thế nào. Các ung thư độ thấp phát triển và lan tràn chậm hơn so với các ung thư độ cao. Các yếu tố khác bao gồm tuổi và tình hình sức khoẻ chung của người phụ nữ cũng được xem xét khi lập kế hoạch điều trị. Các phụ nữ mắc ung thư tử cung có thể được một nhóm bác sĩ điều trị gồm bác sĩ phụ khoa, nhà ung thư học phụ khoa (bác sĩ chuyên điều trị ung thư của đường sinh dục nữ) và bác sĩ xạ trị.

 

 

Chuẩn bị cho việc điều trị

       Nhiều người bị ung thư muốn biết nhiều về bệnh của mình và việc lựa chọn biện pháp điều trị để họ có thể góp phần tích cực trong những quyết định điều trị cho họ. Khi người phụ nữ biết mình bị ung thư tử cung, choáng và bị sang chấn tâm lý là những phản ứng tự nhiên. Những cảm giác này có thể làm cho người phụ nữ không thể nghĩ về mọi điều để hỏi bác sĩ. Sự có mặt của người nhà và bạn bè tham gia vào việc bàn bạc với bác sĩ về cách thức điều trị là cần thiết. Tuy nhiên, trong hoàn cảnh thực tế của Việt nam thường phần lớn các bệnh nhân tuân thủ tuyệt đối các quyết định của bác sĩ.

       Bệnh nhân có thể tìm hiểu sâu thêm về các vấn đề sau đây:

Loại ung thư tử cung nào họ mắc?

Có bằng chứng ung thư đã lan tràn chưa, bệnh ở giai đoạn nào?

Ung thư ở độ nào cao hay thấp?

Các biện pháp điều trị được lựa chọn là gì, bác sĩ khuyên bệnh nhân chọn phương pháp nào?

Lợi ích hy vọng đạt được của mỗi loại điều trị là gì?

Các nguy cơ và các tác dụng phụ của mỗi loại điều trị có thể có là gì?

Chi phí cho điều trị tốn kém bao nhiêu?

Điều trị sẽ ảnh hưởng đến hoạt động của bệnh nhân như thế nào?

Sẽ phải kiểm tra thường xuyên như thế nào sau điều trị?

       Hiểu thêm những vấn đề trên, bệnh nhân có thể đi đến những quyết định điều trị phù hợp với mình.

Các phương pháp điều trị

       Hầu hết các phụ nữ mắc ung thư tử cung được điều trị phẫu thuật. Một số người được xạ trị. Một số người có thể được điều trị nội tiết tố hoặc điều trị hoá chất.

Phẫu thuật      

Phẫu thuật là để lấy đi tử cung, vòi trứng và buồng trứng cả hai bên là phương pháp điều trị với hầu hết các phụ nữ bị ung thư tử cung. Các hạch bạch huyết ở gần khối u cũng có thể được lấy đi trong quá trình phẫu thuật để kiểm tra xem các hạch có chứa ung thư không. Nếu ung thư đã xâm nhập vào hạch, có thể ung thư đã lan tràn đến các phần khác của cơ thể. Nếu ung thư chưa lan tràn ra ngoài nội mạc tử cung (ung thư chỉ ở lớp mô mỏng phủ mặt trong tử cung), bệnh thường có thể được điều trị khỏi bằng phẫu thuật đơn thuần.

       Những vấn đề người phụ nữ có thể tìm hiểu thêm trước khi được phẫu thuật:

Loại phẫu thuật nào sẽ được áp dụng?

Sau phẫu thuật có bị đau không, nếu bị đau có cách gì để chữa?

Bệnh nhân sẽ phải nằm trong bệnh viện bao lâu?

Bệnh nhân có bị ảnh hưởng lâu dài vì phẫu thuật không?

Khi nào bệnh nhân có thể trở lại với các hoạt động bình thường?

Có cần theo dõi sau điều trị không?

Xạ trị

       Trong xạ trị, các tia năng lượng cao được sử dụng để giết các tế bào ung thư. Tia X có thể bắt nguồn từ một ống nhỏ chứa chất phóng xạ được đặt trực tiếp vào trong hay ở gần vị trí u (xạ trị trong). Tia xạ cũng có thể đến từ một máy lớn ngoài cơ thể (xạ trị ngoài). Một số bệnh nhân ung thư cổ tử cung cần cả xạ trị trong và xạ trị ngoài. Cũng như phẫu thuật, xạ trị là điều trị tại chỗ. Nó chỉ tác động đến các tế bào ung thư ở vùng được điều trị. Xạ trị có thể được sử dụng phụ thêm với phẫu thuật để điều trị cho các bệnh nhân ở một số giai đoạn của ung thư tử cung. Xạ trị có thể được dùng trước phẫu thuật để làm co nhỏ khối u hoặc sau phẫu thuật để phá huỷ bất kỳ tế bào ung thư nào còn sót lại trong vùng. Ở một số bệnh nhân không thể phẫu thuật được, xạ trị đôi khi được sử dụng thay thế cho phẫu thuật.

       Bệnh nhân có thể tìm hiểu thêm các vấn đề sau đây trước khi được xạ trị:

Mục đích của điều trị này là gì?

Xạ trị được thực hiện như thế nào?

Khi nào điều trị bắt đầu? Khi nào kết thúc?

Bệnh nhân sẽ cảm thấy như thế nào trong khi điều trị? Có tác dụng phụ không?

Bệnh nhân phải tự chăm sóc mình như thế nào khi điều trị?

Làm thế nào để biết xạ trị đang hoạt động?

Bệnh nhân có thể tiếp tục các hoạt động bình thường trong khi xạ trị không?

 

 

Điều trị nội tiết tố    

         • Điều trị nội tiết tố là sử dụng các thuốc, chẳng hạn như progesteron, để ngăn cản các tế bào ung thư tiếp nhận hoặc sử dụng nội tiết tố chúng có thể cần để phát triển.

         • Điều trị nội tiết tố là điều trị hệ thống. Các thuốc thường được dùng đường uống, đi vào máu, đi khắp cơ thể và kiểm soát các tế bào ung thư ngoài tử cung.

         • Đôi khi bệnh nhân không thể được điều trị bằng phẫu thuật và phải điều trị nội tiết tố.

         • Dạng điều trị này cũng thường được khuyên dùng cho những phụ nữ bị ung thư nội mạc tử cung di căn hoặc tái phát.

       Bệnh nhân có thể tìm hiểu thêm các vấn đề sau đây trước khi điều trị nội tiết tố:

Vì sao bệnh nhân cần loại điều trị này?

Loại nội tiết tố  nào sẽ được áp dụng, nó tác dụng như thế nào?

Thuốc có tác dụng phụ không và nếu có thì phải xử lý những tác dụng phụ này như thế nào?

Điều trị nội tiết sẽ kéo dài bao lâu?

Điều trị hoá chất

       Hoá trị (điều trị hoá chất) là sử dụng các thuốc để giết các tế bào ung thư. Các thuốc chống ung thư có thể được sử dụng bằng đường uống hoặc tiêm vào mạch máu hay bắp thịt. Giống như điều trị nội tiết tố, điều trị hoá chất là điều trị hệ thống, nó giết tế bào ung thư khắp cơ thể. Hoá trị đang được đánh giá trong những nghiên cứu điều trị cho những ung thư tử cung đã lan tràn.

       Một số vấn đề bệnh nhân có thể tìm hiểu trước khi điều trị hoá chất:

Mục đích của điều trị là gì?

Thuốc nào sẽ được sử dụng?

Thuốc có gây tác dụng phụ không, nếu có phải đối phó thế nào với các tác dụng phụ này?

Phải dùng thuốc trong thời gian bao lâu?

Làm như thế nào để biết thuốc đang có tác dụng?

 

 

CÁC NGHIÊN CỨU ĐIỀU TRỊ

       Các bác sĩ tiến hành các nghiên cứu điều trị để biết về hiệu quả và các tác dụng phụ của các phương pháp điều trị mới.

        Trong một số nghiên cứu, tất cả các bệnh nhân đều được áp dụng một phương pháp điều trị mới.

        Trong các nghiên cứu khác, các bác sĩ so sánh các phương pháp điều trị khác nhau bằng cách áp dụng phương pháp điều trị mới cho một nhóm bệnh nhân và phương pháp điều trị chuẩn (thường quy) cho một nhóm bệnh nhân khác.

        Các nghiên cứu điều trị cũng nhằm so sánh một phương pháp điều trị chuẩn với các phương pháp khác.

        Các bác sĩ đang nghiên cứu các phương pháp mới của xạ trị và hoá trị, các thuốc mới và sự kết hợp thuốc, các liệu pháp sinh học. Một số nghiên cứu nhằm tìm các phương pháp làm giảm các tác dụng phụ của điều trị và cải thiện chất lượng sống cho  người phụ nữ.

 

CÁC TÁC DỤNG PHỤ CỦA ĐIỀU TRỊ

       Trong điều trị ung thư, khó giới hạn các tác dụng phụ của điều trị để chỉ có các tế bào ung thư bị loại bỏ hay bị phá huỷ. Vì điều trị cũng làm hư hại các tế bào và mô lành, nó thường gây các tác dụng phụ.

       Các tác dụng phụ của điều trị ung thư phụ thuộc vào nhiều yếu tố, bao gồm loại và sự mở rộng của điều trị. Các tác dụng phụ có thể không giống nhau với mỗi người và nó có thể thay đổi trong mỗi đợt điều trị. Các bác sĩ có thể cắt nghĩa cho bệnh nhân các tác dụng phụ có thể gặp và các hướng khắc phục các tác dụng phụ trong và sau điều trị.

Phẫu thuật

       Sau cắt bỏ tử cung, bệnh nhân thường bị đau và mệt mỏi chung. Trong một số trường hợp, bệnh nhân có thể bị nôn hoặc buồn nôn sau phẫu thuật và một số bệnh nhân có thể có rối loạn chức năng bàng quang và ruột. Tác động của gây mê và sự khó chịu có thể tạm thời giới hạn hoạt động thể lực. Thời gian nằm lại bệnh viện có thể thay đổi từ nhiều ngày đến một tuần.

       Các phụ nữ đã được cắt bỏ tử cung sẽ không còn hành kinh nữa. Khi các buồng trứng bị cắt bỏ, mãn kinh xảy ra ngay lập tức. Các cơn bốc nóng và các triệu chứng khác của mãn kinh gây nên do phẫu thuật có thể trầm trọng hơn so với mãn kinh tự nhiên. Ở các phụ nữ khác, điều trị thay thế estrogen thường được áp dụng để làm giảm nhẹ các triệu chứng của mãn kinh. Tuy nhiên, điều trị thay thế estrogen không được dùng phổ biến cho các phụ nữ bị ung thư nội mạc tử cung vì estrogen có liên quan với sự phát triển của ung thư tử cung, nhiều bác sĩ cho rằng điều trị thay thế estrogen có thể làm cho ung thư tử cung tái phát. Các bác sĩ khác cho rằng không có bằng chứng khoa học là điều trị thay thế estrogen làm tăng nguy cơ tái phát. Một nghiên cứu lớn đang được tiến hành nhằm xác định liệu phụ nữ ở giai đoạn sớm của ung thư nội mạc có thể dùng estrogen một cách an toàn không.

       Sau phẫu thuật, các hoạt động bình thường có thể phục hồi sau 4 đến 8 tuần. Ham muốn tình dục và quan hệ tình dục thường không bị ảnh hưởng bởi phẫu thuật cắt bỏ tử cung.

Xạ trị

       Xạ trị có thể phá huỷ khả năng của các tế bào phát triển và phân chia. Cả các tế bào bình thường và các tế bào bệnh lý đều có thể bị tổn thương, nhưng hầu hết các tế bào bình thường có thể hồi phục. Với xạ trị, các tác dụng phụ phụ thuộc nhiều vào liều điều trị và phần cơ thể được điều trị. Trong xạ trị, bệnh nhân thường cảm thấy rất mệt mỏi, đặc biệt vào những tuần lễ cuối của đợt điều trị. Nghỉ ngơi là quan trọng, nhưng bác sĩ thường khuyên bệnh nhân cố gắng giữ gìn các hoạt động ở mức có thể được.

 

CÁC NGUYÊN NHÂN CÓ THỂ VÀ KHẢ NĂNG DỰ PHÒNG

       Các nhà khoa học ở nhiều nước đang nghiên cứu về ung thư tử cung. Họ đang cố gắng tìm hiểu nhiều hơn về nguyên nhân gây bệnh và dự phòng bệnh như thế nào.

       Vào thời điểm này, cũng giống như  với ung thư cổ tử cung, người ta vẫn chưa biết một cách chắc chắn cái gì gây ung thư tử cung và các bác sĩ hoàn toàn không thể cắt nghĩa được vì sao người này bị bệnh trong khi người khác không bị bệnh. Tuy nhiên đã rõ ràng là ung thư tử cung không phải được gây nên do một tổn thương và nó không lây. Một người không thể bị lây ung thư tử cung từ một người khác.

       Bằng việc nghiên cứu các hình thái ung thư trong quần thể dân cư, các nhà nghiên cứu đã tìm thấy một số yếu tố phổ biến hơn ở những phụ nữ bị ung thư tử cung so với những người không bị bệnh. Điều quan trọng cần hiểu là hầu hết các phụ nữ có các yếu tố nguy cơ này không bị ung thư và nhiều người mắc ung thư tử cung không có các yếu tố này.

Dưới đây là một số yếu tố nguy cơ đã biết về bệnh:

Tuổi: Ung thư tử cung phổ biến hơn ở những phụ nữ trên 50 tuổi

Quá sản nội mạc: Các phụ nữ có tăng sinh (quá sản nội mạc) có tăng nguy cơ phát sinh ung thư tử cung.

Điều trị thay thế estrogen: Các phụ nữ sử dụng điều trị thay thế estrogen để kiếm soát các triệu chứng kết hợp với mãn kinh, đề phòng bệnh rỗ xương (sự mỏng đi của các xương) hoặc làm giảm nguy cơ của bệnh tim hay đột quỵ có thể tăng nguy cơ ung thư tử cung. Sử dụng lâu dài và liều lớn hình như làm tăng nguy cơ. Sử dụng kết hợp estrogen và progesteron làm giảm nguy cơ liên quan với sử dụng riêng estrogen. Progesteron bảo vệ nội mạc tử cung khỏi tác động gây ung thư của estrogen. Khi người phụ nữ được đặt vấn đề điều trị thay thế estrogen (nội tiết tố) cần hỏi bác sĩ về những lợi ích và nguy cơ của việc điều trị này. Việc kiểm tra sức khoẻ đều đặn trong khi điều trị nội tiết tố thay thế có thể cải thiện cơ hội phát hiện và điều trị ung thư cổ tử cung ở giai đoạn sớm nhất nếu nó phát triển.

Quá nặng cân: Các nhà khoa học tin rằng quá nhiều estrogen có thể là lý do vì sao các phụ nữ quá nặng cân có nguy cơ phát sinh ung thư tử cung cao gấp đôi so với những phụ nữ có cân nặng bình thường. Vì mỡ chuyển một số hormon thành một dạng của estrogen, những phụ nữ có quá nhiều mỡ có mức estrogen cao hơn.

Đái đường và huyết áp cao. Một số nghiên cứu gợi ý rằng đái tháo đường và huyết áp cao làm tăng nguy cơ ung thư tử cung. Vì các bệnh này thường xảy ra ở những phụ nữ quá béo, các nhà nghiên cứu không thể xác định chắc chắn liệu chính những bệnh này hoặc liên quan giữa mỡ cơ thể và mức estrogen làm tăng nguy cơ ung thư tử cung.

Các ung thư khác. Các phụ nữ có tiền sử ung thư đại tràng, ung thư trực tràng hoặc ung thư vú có nguy cơ phát sinh ung thư tử cung hơi cao hơn những người bình thường. Những bệnh nhân mắc ung thư tử cung cũng có tăng nguy cơ mắc một số ung thư khác.

Tamoxifen. Tăng nguy cơ phát sinh ung thư tử cung đã được tìm thấy ở những phụ nữ được dùng thuốc Tamoxifen để điều trị ung thư vú. Nguy cơ này có thể liên quan với tác động giống estrogen của thuốc này trên tử cung. Những phụ nữ dùng tamoxifen phải được bác sĩ kiểm tra chặt chẽ về các dấu hiệu hoặc các triệu chứng có thể của ung thư tử cung. Tuy nhiên các bác sĩ đã nhấn mạnh là lợi ích của tamoxifen trong điều trị ung thư vú đã được xác định chắc chắn và có giá trị hơn nhiều sơ với nguy cơ của các ung thư khác.

Chủng tộc. Các phụ nữ da trắng có nguy cơ mắc ung thư tử cung cao hơn phụ nữ da đen.

       Các yếu tố nguy cơ khác của ung thư tử cung cũng liên quan với estrogen, bao gồm có ít hoặc không có con hoặc mãn kinh muộn. Một số nghiên cứu ở những phụ nữ dùng thuốc tránh thai đường uống kết hợp  estrogen và progesteron cho thấy những phụ nữ này có nguy cơ trung bình của ung thư tử cung thấp hơn.

PGS.TS. Lê Đình Roanh và ThS. Nguyễn Văn Chủ

Giới thiệu chung

7/16/2007 11:03:05 AM
<p><strong>Chuyen cua chau Nguyen Ngoc Khanh</strong></p>
<p>Anh <strong>Đặng Đ&igrave;nh Thiết</strong><br/>(ảnh chụp năm 2006)</p>
<p><strong>Sach da xuat ban</strong></p>
<p><strong>Sach da xuat ban</strong></p>
<p><strong>Sach da xuat ban</strong></p>
<p><strong>Sach da xuat ban</strong></p>
<p><strong>Sach da xuat ban</strong></p>
<p><strong>Sach da xuat ban</strong></p>