Liên Hệ | English
Danh Mục
Giới thiệu
Phổ biến kiến thức
Tư vấn
Cuộc sống sau điều trị
Bệnh học ung thư
Dịch vụ y tế
Ung thư trẻ em
Công trình nghiên cứu
Diễn dàn
Tin tức & Sự kiện
Hợp tác
Liên hệ
Đường dây nóng
Liên Kết Website
Tìm kiếm
 
Counter engine
HTML Hit Counters
Giới thiệu

Ung thư gan

Đặt vấn đề
         Ung thư gan nguyên phát bắt đầu trong chính các tế bào của gan. Ung thư gan nguyên phát là một trong những bệnh ung thư phổ biến nhất trên pham vi toàn thế giới. Theo thống kê của Tổ chức Y tế Thế giới năm 2000, ung thư gan nguyên phát đứng hàng thứ 5 ở nam giới và hàng thứ 9 ở Mỹ.
         Ung thư gan cũng xảy ra như những ung thư thứ phát (ung thư di căn). Nó xảy ra khi u từ các phần khác của cơ thể di căn tới gan. Tại Mỹ và một số nước khác, hầu hết các ung thư được tìm thấy trong gan lan tràn từ các ung thư ở nơi khác đến. Thay vì được gọi là ung thư gan, typ ung thư này trong gan được gọi tên theo cơ quan trong đó ung thư này bắt đầu- chẳng hạn như ung thư đại tràng di căn trong trường hợp ung thư bắt đầu trong đại tràng và lan tràn tới gan.
         Vì ung thư gan hiếm khi được phát hiện sớm và khó kiểm soát với những biện pháp điều trị hiện nay, tiên lượng thường xấu. Mặc dù những biện pháp điều trị không mang lại nhiều cải thiện, điều trị thường có thể giúp kiểm soát đau và cải thiện chất lượng sống. Tuy nhiên, những tin tức quan trọng nhất về ung thư gan nguyên phát là bạn có thể làm giảm mạnh nguy cơ của bạn bằng cách bảo vệ bạn khỏi bị viêm gan nhiễm khuẩn và xơ gan, những nguyên nhân chính của bệnh.
Những dấu hiệu và triệu chứng
         Phần lớn các bệnh nhân không có các dấu hiệu hay triệu chứng trong những giai đoạn sớm của ung thư gan, điều đó có nghĩa là bệnh có thể không được phát hiện cho đến khi đã khá muộn. Khi các triệu chứng đã xuất hiện, chúng có thể bao gồm một số hoặc tất cả các triệu chứng sau:
          Chán ăn và sút cân
          Đau bụng, đặc biệt là phần trên phải của bụng, có thể lan ra sau lưng hoặc lên vai
          Nôn và buồn nôn
          Người yếu và mệt mỏi
          Gan to
          Sưng to vùng bụng (cổ trướng)
          Sự chuyển màu vàng của da và phần lòng trắng của mắt
Những nguyên nhân
         Gan nặng chừng 1200g và có kích thước bằng nửa quả bóng, gan là nội tạng lớn nhất trong cơ thể. Gan nằm ở phần trên phải của ổ bụng ở dưới cơ hoành và trên dạ dày. Gan được chia thành hai phần chính (thuỳ). Mỗi thuỳ được tạo thành bởi hàng nghìn các thuỳ nhỏ (tiểu thuỳ), nó được nối với một mạng lưới các ống. Những tiểu thuỳ là những phần chức năng của gan và thực hiện hàng trăm các nhiệm vụ cần thiết cho sức khoẻ và cuộc sống của bạn.
         Gan xử lý hầu hết những chất dinh dưỡng được hấp thụ từ ruột non và quyết định bao nhiêu đường (glucose), protein và mỡ đi vào dòng máu. Nó cũng sản xuất ra các chất gây đông máu và một số protein và mỗi ngày gần một phần tư lít mật, một dịch giúp cơ thể tiêu hoá mỡ.
         Gan cũng thực hiện chức năng giải độc quan trọng bằng việc loại bỏ các thuốc, rượu và các chất có hại khác từ trong máu. ở bất kỳ thời điểm nào gan đều giữ 13% toàn bộ máu của cơ thể. Nó đi vào gan qua hai hệ thống mạch máu: động mạch gan và tĩnh mạch cửa.
         Vì tính phức tạp của gan và sự phơi nhiễm của chúng với nhiều chất độc mạnh, gan hình như có nhược điểm đặc trưng có thể dễ bị làm tổn thương. Tuy nhiên, gan cũng có khả năng tái sinh đáng kinh ngạc, nó có thể tự khỏi bằng cách thay thế hay sửa chữa mô đã bị tổn thương. Đồng thời những tế bào gan lành cũng đảm nhiệm chức năng của các tế bào bị tổn thương, vĩnh viễn hoặc cho đến khi tổn thương được sửa chữa. Vì vậy, gan cũng dễ dàng bị một số bệnh có thể gây nên một tổn thương trầm trọng hoặc không hồi phục được. Một trong những bệnh này là ung thư gan nguyên phát.
Điều gì xảy ra trong một ung thư gan
         Trong ung thư gan, một số tế bào bắt đầu phát triển một cách bất thường. Cũng không hoàn toàn hiểu được vì sao điều đó xảy ra, nhưng các nhà nghiên cứu tin rằng ung thư bắt đầu với tổn thương của DNA, một vật liệu có chứa các lệnh cho mỗi quá trình hoá học trong cơ thể bạn, bao gồm cả tỷ lệ phát triển tế bào. Tổn thương của DNA gây nên những thay đổi trong những lệnh này. Một hậu quả là các tế bào có thể bắt đầu phát triển ngoài sự kiểm soát và thường tạo thành một khối u, một khối của các tế bào ác tính.
Những yếu tố được biết là gây tổn thương DNA bao gồm:
          Viêm gan B và C. Nhiễm khuẩn mạn tính, toàn cầu với viêm gan virus B (HBV) hoặc viêm gan virus C (HCV) là nguyên nhân phổ biến nhất của ung thư gan. Tại Mỹ, nhiễm khuẩn viêm gan C là nguyên nhân của một nửa các trường hợp ung thư biểu mô tế bào gan, một typ phổ biến nhất của ung thư gan nguyên phát. Viêm gan C được truyền trước hết qua việc truyền máu, những mẫu máu không được sàng lọc virus, qua những kim tiêm đã bị nhiễm bệnh được sử dụng để tiêm thuốc, hoặc hiếm hơn qua những kim được sử dụng để xăm hoặc đâm vào cơ thể. Trong một số trường hợp, viêm gan C được truyền qua quan hệ tình dục. Ngay lúc này, nó gây tổn thương DNA như thế nào thì chưa được biết rõ. Virus không đưa vật liệu di truyền của nó vào các tế bào khoẻ theo con đường như HBV, nhưng một số chuyên gia nghĩ rằng virus có thể can thiệp vào tác động của một gen ngăn cản tế bào sinh sản với một tỷ lệ cao.
         HBV lan tràn qua tiếp xúc tình dục không bảo vệ và qua các kim đã bị ô nhiễm. Hơn nữa, phụ nữ nhiễm HBV có thể truyền virus qua những trẻ chưa đẻ ra. Virus hình như gây ảnh hưởng đến tế bào gan bằng việc đưa vật liệu di truyền vào các tế bào gan khoẻ. Do đó gây rối loạn chức năng bình thường của các tế bào gan và thường có thể dẫn đến ung thư.
          Xơ gan. Phần lớn các ung thư biểu mô tế bào gan phát sinh trên một gan xơ. Xơ gan thường là giai đoạn phát triển nặng của một bệnh viêm gan mạn tính với những nguyên nhân khác nhau. Tại Mỹ, lạm dụng rượu là nguyên nhân phổ biến nhất của xơ gan, một bệnh dẫn đến sẹo hoá không hồi phục trong gan. Bệnh nhiễm sắc tố sắt di truyền, gây nên quá nhiều sắt tích luỹ trong gan và các mô khác cũng có thể dẫn đến xơ gan.
          Phơi nhiễm lâu dài với aflatoxin. Chất sinh ung thư độc tính cao này được hình thành khi lạc, một số ngũ cốc hoặc thức ăn ô nhiễm nấm Aspergillus flavus. Aflatoxin có thể phá huỷ gen p53, gen này bình thường hoạt động để ngăn cản sự phát triển của tế bào quá mức. Trên thế giới, tỷ lệ mới mắc của ung thư biểu mô tế bào gan và tỷ lệ sử dụng thức ăn ô nhiễm aflatoxin thường tăng song song với nhau. Tại Việt nam, aflatoxin được tìm với tỷ lệ cao trong mẫu nước tiểu và mô gan ung thư.
          Vinyl chlorid và thorium dioxide (Thorotrast). Vinyl chlorid là một hoá chất được sử dụng để sản xuất chất dẻo (plastic). Thorotrast trước đây được dùng cho những người được chụp X quang. Cả hai loại hoá chất đều được biết là có vai trò trong sự phát sinh của các ung thư hiếm gặp bắt đầu trong các mạch máu của gan (sacôm mạch). Thorotrast hiện nay không được sử dụng trong y học nữa.
          Arsenic. Nước uống nhiễm Arsenic, một chất sinh ung thư đã biết được cho là nguyên nhân phát sinh ung thư gan.
          Xơ gan mật tiên phát. Những người mắc xơ gan mật tiên, một viêm của các ống mật trong gan có tăng nguy cơ có ý nghĩa của ung thư biểu mô ống mật, một typ của ung thư gan tiên phát.
          Viêm đại tràng loét. Bệnh viêm này của đại tràng và đường tiêu hoá dẫn đến những thay đổi trong các ống mật và làm tăng nguy cơ của ung thư biểu mô đường mật.
Các typ của ung thư gan tiên phát
         Có nhiều typ của ung thư gan, mỗi typ có các nguyên nhân riêng
          Ung thư biểu mô tế bào gan. Đây là typ phổ biến nhất của ung thư gan nguyên phát ở cả trẻ em và người lớn. Nó khởi đầu trong tế bào gan, một loại chính của các tế bào của gan, nó có thể lan tràn theo các đường khác nhau- như một u đơn độc xâm nhập chậm vào phần còn lại của gan hoặc như một ung thư lan tràn ngay toàn bộ gan.
         Những nguyên nhân chính của ung thư biểu mô tế bào gan bao gồm xơ gan, viêm gan B và C và ăn phải thức ăn ô nhiễm aflatoxin.
          Ung thư biểu mô đường mật. Typ ung thư này bắt đầu trong những ống mật nhỏ trong gan. Bạn có nguy cơ tăng phát sinh ung thư đường mật nếu bạn có sỏi mật hoặc viêm đại tràng loét. Một số ký sinh trùng phổ biến của gan được tìm thấy trong các vùng Đông Nam á cũng có thể góp phần vào việc phát sinh typ ung thư này (ví dụ, Schistosoma Japonicum, Chlonorchis sinensis).
          U nguyên bào gan. Typ hiếm gặp này của ung thư gan gây bệnh ở những trẻ em dưới 4 tuổi và có thể gây nên do một gen bất thường. Hầu hết các trẻ em với u nguyên bào gan có thể được điều trị có kết quả.
          Các sacôm mạch máu. Những ung thư hiếm gặp này bắt đầu trong những mạch máu của gan và kết hợp với những phơi nhiễm với các hoá chất công nghiệp như vinyl chlorid hoặc thuốc thorium dioxide (Thorotrast). Hiện nay bệnh hiếm khi xảy ra. Việc sử dụng trong y học Thorotrast đã đình chỉ từ gần 50 năm trước.
Ung thư di căn
         Tại Mỹ và nhiều nước khác, hầu hết các ung thư được tìm thấy trong gan lan tràn từ những phần khác của cơ thể. Typ này của ung thư thường được gọi theo cơ quan ở đó nó bắt đầu và được mô tả là ung thư di căn. Chẳng hạn như ung thư lan tràn tới gan từ đại tràng được gọi là ung thư đại tràng di căn.
Các typ của u lành tính
         Những u không ung thư (lành tính) cũng phát sinh trong gan. Chúng bao gồm:
          U mạch. Đây là typ phổ biến nhất của u lành của gan. Nó phát sinh từ các mạch máu của gan và thường là hậu quả của một dị tật của mô trong quá trình phát triển của phôi. Hầu hết các u máu của gan không gây nên các dấu hiệu và triệu chứng và không cần điều trị.
          U tuyến của gan. U lành này có nguồn gốc từ các tế bào gan. Trong hầu hết các trường hợp u tuyến gan không gây các dấu hiệu và triệu chứng, nhưng đôi khi bạn có thể cảm thấy đau bụng, một khối ở bụng hoặc mất máu. Bạn có thể bị phát sinh typ u lành tính này nếu bạn sử dụng viên thuốc tránh thai, nhưng một cách đơn giản là nếu bạn dừng thuốc, u sẽ co nhỏ lại.
          Quá sản nốt ổ. U này là sự kết hợp của nhiều typ tế bào, bao gồm các tế bào gan, các tế bào đường mật và mô liên kết. Giống như các u lành tính khác, u phổ biến hơn ở phụ nữ so với nam giới và thường không gây nên các dấu hiệu và triệu chứng.
Những yếu tố nguy cơ
         Ung thư gan có thể ảnh hưởng đến mọi lứa tuổi và chủng tộc, nhưng một số yếu tố có thể làm tăng nguy cơ phát sinh bệnh, bao gồm:
          Giới. Nam giới có nguy cơ phát sinh ung thư gan cao gấp hai lần so với nữ giới.
          Chủng tộc. Tại Mỹ, những người Mỹ gốc châu á có tỷ lệ ung thư gan cao nhất do tỷ lệ nhiễm viêm gan B mạn tính cao. Người Mỹ da đen và những người Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha thường mắc ung thư gan hơn những người da trắng, nhưng nguy cơ của họ ở mức trung bình hơn so với những người nhập cư từ các nước châu á.
          Tuổi. Ung thư biểu mô tế bào gan thường được phát hiện nhiều ở lứa tuổi từ 50 đến 60 tuổi . ở Mỹ, ung thư gan thường xảy ra ở những người tuổi 60 và già hơn, tuổi trung bình của ung thư biểu mô gan ở các nước Đông Nam á và các nước châu Phi thường thấp hơn các nước khác.
          Nhiễm khuẩn mạn tính với HBV và HCV. Nhiễm khuẩn mạn tính với viêm gan B và C là yếu tố nguy cơ quan trọng nhất với ung thư gan. Trên toàn thế giới, nhiễm HBV liên quan với hầu hết các trường hợp ung thư biểu mô tế bào gan. Tại Mỹ, nhiễm virus viêm gan C có nguy cơ lớn hơn.
          Mắc xơ gan. Bệnh tiến triển nặng dần và không hồi phục này dẫn đến hình thành những mô sẹo trong gan và làm tăng nguy cơ phát sinh ung thư gan.
          Có bệnh đái tháo đường. Những người mắc bệnh đái tháo đường có nguy cơ mắc ung thư gan lớn hơn những người không có bệnh đái tháo đường. Có cả bệnh đái tháo đường và viêm gan C có nguy cơ lớn hơn.
          Có một số đột biến gen. Các bác sĩ từ lâu đã biết rằng những phụ nữ có những đột biến trong các gen BRCA-1 và BRCA-2 dễ mắc các bệnh ung thư vú và ung thư buồng trứng hơn những người không có những khuyết tật di truyền này. Ngày nay, những đột biến của BRCA-1 và BRCA-2 vừa được xác định có nguy cơ tăng trung bình với các ung thư khác, trong đó có ung thư gan.
          Phơi nhiễm với aflatoxin. Tiêu thụ các thực phẩm có ô nhiễm aflatoxin làm tăng mạnh nguy cơ ung thư gan
          Tiêu thụ quá nhiều rượu. Tiêu thụ nhiều hơn khối lượng rượu trung bình có thể dẫn đến tổn thương gan không hồi phục và tăng nguy cơ ung thư gan. Tiêu thụ trung bình được định nghĩa là không quá hai lần uống một ngày với nam giới và một lần uống với nữ giới. Một lần uống là một cốc rượu vang 4 đến 5 ao-xơ (mỗi ao-xơ khoảng 28g rượu) hoặc 12 ao-xơ bia.
          Hút thuốc lá. Hút thuốc lá thuộc bất cứ loại nào đều làm dễ phát sinh ung thư gan.
Sàng lọc và chẩn đoán
         Không có một xét nghiệm sàng lọc chính xác hoàn toàn nào cho một ung thư gan đang tồn tại. Các bác sĩ đôi khi sử dụng xét nghiệm máu để kiểm tra sự có mặt của alphafetoprotein (AFP), một typ protein bình thường không được tìm thấy ở người trưởng thành để sàng lọc những người có nguy cơ cao của bệnh. Không phải tất cả các u ác tính của gan đều sản xuất AFP và có những u ở giai đoạn muộn mức AFP mới tăng cao. Đồng thời các ung thư khác và một số bệnh gan không phải ung thư cũng gây tăng AFP.
         Mặc dù việc sàng lọc bằng AFP có thể phát hiện được những khối u nhỏ ở một số người, hầu hết các ung thư gan không được chẩn đoán sớm. Đó là vì các triệu chứng thường không xuất hiện cho đến giai đoạn muộn của bệnh và vì ung thư gan phát triển nhanh. Typ phổ biến nhất của ung thư gan ung thư biểu mô tế bào gan nhân đôi kích thước mỗi chu kỳ bốn tháng. Chẩn đoán cũng khó khăn vì tác động của một số u gan có thể giống tác động của một số bệnh khác vì ung thư gan không thể được chẩn đoán bởi một nhóm chuẩn các xét nghiệm về gan.
         Nếu bạn có bất kỳ một triệu chứng của ung thư gan, chẳng hạn như sút cân không cắt nghĩa được, đau bụng dai dẳng hoặc sưng phồng bụng hoặc vàng da, hãy đi khám bệnh sớm nhất có thể được. Bác sĩ sẽ hỏi bạn về tiền sử bệnh, thực hiện khám thực thể và sẽ yêu cầu một hoặc nhiều hơn các xét nghiệm dưới đây, mỗi xét nghiệm có một số lợi ích và bất lợi:
          Siêu âm. Trong xét nghiệm không xâm phạm này, bệnh nhân không bị phơi nhiễm với tia xạ hoặc thuốc nhuộm, sử dụng các sóng âm để tạo ra hình ảnh của các cơ quan nội tạng, bao gồm gan. Siêu âm không đau và thường mất dưới 30 phút. Khi bạn nằm trên giường hoặc bàn xét nghiệm, một thiết bị truyền sóng được đặt trên cơ thể bạn. Nó truyền các sóng âm được phản xạ từ gan bạn và chuyển thành hình ảnh của máy tính. Siêu âm đặc biệt tốt trong việc cung cấp thông tin về hình dạng, cấu tạo và bản chất của u.
          Chụp cắt lớp vi tính. Xét nghiệm này sử dụng các tia X để tạo nên những hình ảnh cắt ngang của cơ thể bạn. Bạn cũng có thể có được áp dụng một phương pháp cải biên của xét nghiệm được gọi là chụp mạch cắt lớp vi tính- trong đó một phẩm nhuộm tương phản được tiêm vào động mạch trong gan bạn. Sau đó các tia X tìm ra phẩm nhuộm khi nó chảy qua các mạch máu trong gan bạn. Một chụp mạch cắt lớp vi tính, có thể mất hàng giờ để thực hiện, có thể cung cấp thông tin chi tiết về số lượng và vị trí các u gan, nhưng chụp cắt lớp vi tính CT cũng làm cho bạn phải phơi nhiễm với nhiều tia xạ hơn so với chụp phim X quang thường quy và một số người có thể có phản ứng dị ứng với phẩm nhuộm tương phản.
          Chụp cộng hưởng từ hạt nhân (MRI). Thay cho tia X, chụp cộng hưởng từ hạt nhân tạo nên các hình ảnh khi sử dụng một trường từ tính và các sóng radio. Đôi khi một phẩm nhuộm tương phản có thể được sử dụng. Xét nghiệm có thể mất từ 15 phút đến một giờ. Bạn có thể thấy chụp cộng hưởng từ hạt nhân dễ chịu hơn chụp cắt lớp vi tính bởi vì bạn có thể được bao bọc trong một thiết bị hình ống khá giới hạn và vì máy sinh ra một tiếng ồn có thể đo lường được làm cho mọi người thấy mất yên tĩnh. Những ống nghe có thể giúp khắc phục tiếng ồn và nếu bạn rất sợ hãi vì bị nhốt trong nơi đóng kín, bác sĩ có thể cho bạn thuốc để giúp bạn thư giãn. Những máy chụp cộng hưởng từ hạt nhân mới cho thấy hình ảnh các ống vận chuyển mật từ gan đến phần trên của ruột non (tá tràng) cũng như các động mạch và tĩnh mạch trong gan.
          Sinh thiết gan. Trong phương pháp này, một mẫu mô được lấy từ gan bạn và được xét nghiệm dưới kính hiển vi. Sinh thiết gan được coi là phương pháp quyết định nhất cho chẩn đoán. Bác sĩ có thể sử dụng một kim nhỏ hoặc một dụng cụ có ánh sáng (soi ổ bụng) đẻ lấy được mẫu gan. Nếu khối u nhỏ, siêu âm hoặc máy chụp cắt lớp vi tính được sử dụng để giúp hướng mũi nhọn của kim vào vùng sinh thiết. Sinh thiết kim là phương pháp đơn giản hơn với ít nguy cơ chảy máu nhưng thường không cung cấp đủ tế bào cho một đánh giá chính xác. Vì gan được cung cấp máu rất tốt bởi các mạch máu, chảy máu là nguy cơ phổ biến nhất của một sinh thiết, vết bầm máu và nhiễm khuẩn cũng có thể xảy ra.
          Các xét nghiệm máu. Nếu các xét nghiệm phát hiện là bạn có ung thư gan, bác sĩ có thể chỉ định các xét nghiệm máu bổ sung để kiểm tra tình trạng mô gan không bị ảnh hưởng bởi ung thư. Thông tin này có thể có vai trò trong việc quyết định biện pháp điều trị tốt nhất cho bạn.
Các xét nghiệm định giai đoạn
         Các xét nghiệm định giai đoạn giúp xác định kích thước và vị trí của ung thư và xem ung thư đã lan tràn chưa. Chúng là yếu tố quan trọng nhất trong việc quyết định những lựa chọn điều trị của bạn. Ung thư gan có thể được định giai đoạn theo những cách khác nhau. Một phương pháp sử dụng các số La mã từ I đến IV, với những số cao hơn chỉ các ung thư ở giai đoạn muộn hơn. U ở giai đoạn I thì nhỏ và giới hạn ở một thuỳ của gan. ở giai đoạn IV, nhiều u có thể tồn tại trong các thuỳ khác nhau, hoặc các tế bào ác tính có thể lan tới các phần khác của cơ thể.
         Các bác sĩ cũng có thể sử dụng những giai đoạn sau đây để mô tả ung thư gan nguyên phát ở người lớn:
          Khư trú, có thể cắt bỏ được. ở giai đoạn này, u giới hạn ở một thuỳ của gan và có thể được cắt bỏ hoàn toàn bằng phẫu thuật. Thuật ngữ có thể cắt bỏ được để chỉ u có thể cắt bỏ được bằng phẫu thuật.
          Khư trú, không cắt bỏ được. Ung thư được tìm thấy ở một phần của gan nhưng không thể cắt bỏ hoàn toàn, hoặc vì phần gan không ung thư không bình thường, hoặc ung thư nằm ở gần những động mạch chính của gan, các tĩnh mạch và các ống mật chính.
          Giai đoạn muộn. Giai đoạn này của ung thư đã lan tràn khắp gan hoặc tới các phần khác của cơ thể, đặc biệt là xương hoặc phổi. Bạn có thể cũng giống như ở giai đoạn muộn nếu bạn có xơ gan hoặc viêm gan mạn tính.
          Tái phát. Tái phát có nghĩa là ung thư đã trở lại với gan của bạn hoặc một phần khác của cơ thể bạn sau khi được điều trị.
Định giai đoạn của ung thư tiên phát ở trẻ em
         Các bác sĩ sử dụng những giai đoạn dưới đây để mô tả ung thư ở trẻ em:
          Giai đoạn I. ở giai đoạn này, ung thư có thể được loại bỏ bằng phẫu thuật
          Giai đoạn II. Phần lớn các ung thư gan giai đoạn II có thể được loại bỏ bằng phẫu thuật, nhưng những lượng vi thể của ung thư còn lại trong gan sau phẫu thuật.
          Giai đoạn III. ở giai đoạn này, một ít ung thư có thể được cắt bỏ bằng phẫu thuật, nhưng một ít sẽ còn lại trong các hạch bạch huyết hoặc ổ bụng.
          Giai đoạn IV. Ung thư giai đoạn này đã lan tràn tới các phần khác của cơ thể.
          Tái phát. Tái phát nghĩa là ung thư quay trở lại sau khi đã được điều trị. Nó có thể tái phát trong gan hay trong một phần khác của cơ thể.
Những biến chứng
         Những người bị ung thư gan đôi khi có thể có những biến chứng sau đây:
          Suy gan. Suy gan xảy ra khi gan không có khả năng hoạt động một cách đầy đủ. Nó thường phát sinh khi có tổn thương lan rộng tới các tế bào gan.
          Suy thận. Thận cũng có thể bị suy, mất khả năng lọc dịch và các chất thải bỏ và gây ra những mức nguy hiểm của những chất này tích luỹ trong cơ thể.
          Lan tràn của ung thư. Có lẽ một biến chứng nghiêm trọng nhất của ung thư là sự lan tràn của bệnh sang các cơ quan khác.
Điều trị
         Điều trị ung thư gan nguyên phát phụ thuộc vào sự lan tràn (giai đoạn) của bệnh cũng như tuổi, sức khoẻ chung, những xúc cảm và sự lựa chọn của cá nhân. Một ý kiến thứ hai có thể cung cấp thông tin bổ sung và giúp bạn cảm thấy chắc chắn hơn về những lựa chọn bạn đang xem xét.
         Mục đích của bất kỳ một điều trị nào là loại trừ ung thư một cách hoàn toàn. Khi điều đó không thể thực hiện, điều trị có thể nhằm mục đích ngăn cản u phát triển hoặc lan tràn. Trong một số trường hợp chăm sóc tạm thời là phù hợp. Chăm sóc tạm thời là điều trị không nhằm vào loại bỏ hoặc làm chậm sự phát triển của bệnh mà nhằm giúp làm giảm triệu chứng và giúp bạn cảm thấy dễ chịu tới mức có thể được.
Điều trị ung thư gan nguyên phát ở người lớn
         Những biện pháp điều trị chuẩn ung thư gan nguyên phát ở người lớn bao gồm phẫu thuật, xạ trị và hoá trị. Bác sĩ cũng có thể sử dụng một biện pháp điều trị khác như tiêm cồn, điều trị bằng dòng điện hoặc phẫu thuật làm đông lạnh khối u (phẫu thuật đông lạnh).
          Phẫu thuật. Điều trị tốt nhất với một ung thư khư trú có thể cắt bỏ được thường là một phẫu thuật được gọi là phẫu thuật cắt bỏ. Trong một số trường hợp, vùng gan ở đó ung thư được tìm thấy có thể được loại bỏ một cách hoàn toàn. Cắt bỏ bằng phẫu thuật cũng có thể là sự lựa chọn nếu bạn có một ung thư khư trú không thể cắt bỏ được. Bạn không thể được điều trị bằng phẫu thuật nếu bạn có xơ gan hoặc chỉ một lượng nhỏ mô gan lành và thậm chí khi việc cắt bỏ có hiệu quả, ung thư có thể tái phát ở đâu đó trong gan trong vòng một vài năm.
          Xạ trị. Phương pháp điều trị này sử dụng những tia X liều cao để phá huỷ các tế bào ung thư và làm co nhỏ khối u. Xạ trị có thể đến từ một máy bên ngoài cơ thể bạn hoặc từ một vật liệu chứa năng lượng phóng xạ được đưa vào gan của bạn. Trong một kỹ thuật thực nghiệm, bức xạ được phân phát tới các tế bào gan đặc hiệu bằng việc gắn các chất phóng xạ vào các kháng thể- đó là những phân tử được sản xuất bởi hệ thống miễn dịch của cơ thể bạn để phản ứng với các vi khuẩn xâm nhập. Xạ trị cũng có thể được sử dụng để điều trị những ung thư không cắt bỏ được, khư trú. Bạn cũng có thể được xạ trị sau loại bỏ bằng phẫu thuật khối u để giúp phá huỷ những tế bào ác tính còn lại. Xạ trị có thể ảnh hưởng mô lành cũng như các khối u và có thể gây nên những tác dụng phụ, chẳng hạn như mệt mỏi, nôn và buồn nôn.
          Hoá trị. Phương pháp điều trị này sử dụng các thuốc mạnh để giết các tế bào ung thư. Hoá trị có thể hệ thống- có nghĩa là thuốc lưu hành khắp cơ thể bạn trong dòng máu của bạn – hoặc tại vùng- được biết là hoá nghẽn mạch- là một phần quan trọng của điều trị ung thư biểu mô tế bào gan. Hoá nghẽn mạch không chữa khỏi được ung thư gan nhưng nó có thể làm co nhỏ các khối u ở một tỷ lệ nhất định các bệnh nhân và có thể làm giảm nhẹ triệu chứng và cải thiện thời gian sống thêm. Trong phương pháp này, động mạch gan, động mạch cung cấp máu cho khối u được làm tắc nghẽn và thuốc được tiêm vào giữa chỗ làm tắc và gan. ý tưởng là nhằm mục tiêu vào u một cách trực tiếp, bác sĩ có thể sử dụng những liều thuốc mạnh mà không gây nên nhiều tác dụng phụ như xảy ra trong hoá trị hệ thống.
         Tuy nhiên, sự thực là hoá nghẽn mạch gây nên nhiều tác dụng phụ như các dạng khác của hoá trị, bao gồm đau bụng, nôn và buồn nôn. Những loại thuốc mới chống nôn làm giảm nhiều triệu chứng ruột trầm trọng và châm cứu, và các kỹ thuật thư giãn chẳng hạn như tưởng tượng, tụng niệm, thở sâu cũng có thể giúp làm giảm nôn và buồn nôn. Bạn có thể hỏi bác sĩ điều trị những tác dụng phụ của điều trị nào bạn đang gặp phải và cách tốt nhất để làm giảm tối thiểu những tác dụng này.
          Tiêm cồn. Trong phương pháp này, cồn nguyên chất được tiêm trực tiếp vào các khối u hoặc qua da, hoặc trong quá trình phẫu thuật. Cồn sẽ làm khô các tế bào của u và thường các tế bào chết. Mỗi lần điều trị cần một lần tiêm mặc dù bạn có thể cần nhiều lần tiêm cho những kết quả tốt nhất. Tiêm cồn đã được chứng minh là cải thiện thời gian sống thêm ở những người có những u tế bào gan nhỏ. Nó cũng có thể được sử dụng để làm giảm triệu chứng trong những trường hợp ung thư gan di căn. Tác dụng phụ phổ biến nhất là rò rỉ cồn vào gan và vào ổ bụng.
          Cắt bỏ bằng tần số radio. Trong phương pháp này dòng điện trong giới hạn của tần số radio được sử dụng để phá huỷ các tế bào ác tính. Sử dụng siêu âm hoặc máy chụp cắt lớp vi tính để hướng dẫn, phẫu thuật viên đưa nhiều kim nhỏ qua một đường rạch nhỏ trên thành bụng. Khi các kim vào tới u, chúng sẽ được làm nóng với một dòng điện để phá huỷ các tế bào ác tính. Cắt bỏ bằng sóng radio là sự lựa chọn cho những người với những u tế bào gan nhỏ không cắt bỏ được và cho một số typ của ung thư gan di căn. Mặc dù phương pháp này có nguy cơ của những biến chứng nặng cao hơn tiêm cồn, nó cho kết quả tốt hơn.
          Phẫu thuật lạnh (điều trị lạnh). Phương pháp điều trị này sử dụng nhiệt độ cực kỳ lạnh để phá huỷ các tế bào ung thư. Từ xa xưa, phẫu thuật lạnh được sử dụng để điều trị ung thư da giai đoạn sớm. Ngày nay, phẫu thuật có thể là một lựa chọn cho những người bị ung thư gan tiên phát hay di căn không phẫu thuật được. Nó cũng có thể được sử dụng bổ sung cho phẫu thuật hoá trị hoặc những phương pháp điều trị chuẩn khác. Trong phương pháp này, bác sĩ đặt một dụng cụ (dụng cụ làm lạnh) có chứa nitơ lỏng trực tiếp vào các khối u của gan. Nitơ lỏng có nhiệt độ âm 320 độ F. Các hình ảnh siêu âm được sử dụng để hướng dẫn dụng cụ làm lạnh và kiểm soát việc làm lạnh các tế bào. Phẫu thuật lạnh ít xâm nhập hơn phẫu thuật thường quy và chỉ đòi hỏi một đường rạch nhỏ. Vì vậy bạn sẽ khỏi nhanh hơn và có ít biến chứng hơn.
         Những tác dụng phụ có xu hướng ít trầm trọng hơn so với các tác dụng phụ kết hợp với phẫu thuật, hoá trị hoặc xạ trị, bao gồm cả tổn thương các đường mật và mạch máu lớn, dẫn đến chảy máu hoặc nhiễm khuẩn, nhưng mặt hạn chế chính của phẫu thuật lạnh là không chắc chắn về hiệu quả lâu dài của nó.
          Ghép gan. Trong phương pháp phẫu thuật này, gan bị bệnh được cắt bỏ và được thay thế bằng một cơ quan của người cho khoẻ mạnh. Ghép gan có thể là một lựa chọn với một số người có u gan giai đoạn sớm, nhỏ và cho một số người với u ống mật. Trong những trường hợp khác, đặc biệt khi các u lớn hơn hoặc các mạch máu bị tổn thương, ghép gan không cải thiện kết quả lâu dài vì ung thư có thể tái phát ngoài gan mới.
Điều trị ung thư gan thứ phát ở trẻ em
         Ung thư gan ở những người trẻ hiếm gặp. Vì vậy, hầu hết các trẻ em mắc bệnh được điều trị ở những khoa ung bướu trẻ em. Nói chung, việc điều trị ung thư gan ở trẻ em cũng giống như điều trị ung thư ở người lớn và những biện pháp tốt nhất phụ thuộc vào giai đoạn và typ ung thư cũng như tuổi của đứa trẻ và tình trạng sức khoẻ chung.
Những thử nghiệm lâm sàng
         Vì những điều trị chuẩn thường không có hiệu quả trong điều trị ung thư gan, nếu có một thử nghiệm lâm sàng được đề nghị, bạn có thể xem xét việc tham gia vào thử nghiệm lâm sàng này.
Dự phòng
         Trong nhiều trường hợp, không thể dự phòng sự lan tràn của ung thư từ một vị trí khác tới gan. Thường cũng không thể dự phòng được ung thư gan nguyên phát. Tuy nhiên, bạn có thể làm giảm nguy cơ bằng cách bảo vệ bạn khỏi bị viêm gan B, viêm gan C, xơ gan và các bệnh gan khác.
         Một phương pháp duy nhất có hiệu quả nhất để dự phòng viêm gan B là tiêm phòng vacxin viêm gan B, nó có thể bảo vệ được trên 90% cả trẻ em và người lớn. Việc bảo vệ này kéo dài nhiều năm hoặc có thể suốt đời. Vacxin có thể dùng cho tất cả mọi người, bao gồm cả trẻ thơ, người lớn già và những người có hệ thống miễn dịch suy giảm.  Những trẻ em thường được dùng vacxin ngay trong năm đầu của đời sống (2, 4 và 9 tháng tuổi).
         Vì viêm gan C không có vacxin dự phòng, các biện pháp sau đây có thể có giữ vai trò chìa khoá trong bảo vệ sức khoẻ cho bạn:
          Tìm hiểu bệnh viêm gan do virus và bệnh lây truyền như thế nào
          Quan hệ tình dục có bảo vệ
          Sử dụng kim sạch nếu bạn phải tiêm thuốc. Con đường tốt nhất để tự bảo vệ mình khỏi bị viêm gan C là không tiêm thuốc. Nếu việc tiêm thuốc là bắt buộc, cần phải đảm bảo bất kỳ kim nào bạn dùng đến là vô trùng và không dùng chung kim.
          Tránh xăm. Những kim được dùng khi xăm có thể không được tiệt trùng đúng kỹ thuật có thể làm lan tràn virus.
          Cần thận trọng về sản phẩm máu. Việc sàng lọc HBV và HCV cho các sản phẩm máu là cần thiết.
          Tránh các thuốc có thể gây tổn thương gan. Tránh trộn rượu với acetaminophen (Tylenol và các thuốc khác) tạo nên một hỗn hợp gây tổn thương gan
          Tránh hoặc giới hạn rượu. Rượu làm tăng sự tiến triển nặng dần của bất kỳ bệnh gan nào bạn có thể mắc và là nguyên nhân chính của xơ gan- một yếu tố chìa khoá trong ung thư gan nguyên phát.
          Tránh phơi nhiễm với các độc tố của môi trường
Kinh nghiệm đương đầu với bệnh
         Khi biết bạn có một bệnh nào đó đe doạ đến đời sống có thể gây choáng váng nghiêm trọng. Tuy nhiên, đương đầu với một chẩn đoán ung thư gan có thể đặc biệt khó khăn. Bệnh ở giai đoạn muộn hơn khi nó được phát hiện, cơ hội khỏi bệnh thực sự càng kém hơn. Vì vậy, bạn có thể cảm thấy đặc biệt không thể vượt qua được khi bạn cần có những quyết định quan trọng. Bạn cũng có thể lo lắng nhiều hơn về những người khác hơn là lo cho chính bản thân bạn. Bạn sẽ nói với con cái của bạn như thế nào? Mặc dù không có những câu trả lời dễ dàng cho những người phải đối phó với ung thư gan, một số những gợi ý sau đây có thể giúp đỡ:
          Học hỏi tất cả những gì có thể được về bệnh của bạn. Học mọi điều bạn có thể học hỏi về ung thư gan - bệnh tiến triển nặng như thế nào, tiên lượng của bạn và những lựa chọn điều trị của bạn, bao gồm cả điều trị thực nghiệm, điều trị chuẩn và những tác dụng phụ của chúng. Bảo đảm chắc chắn là bạn hiểu được một biện pháp đặc biệt được sử dụng để điều trị ung thư hoặc chăm sóc tạm thời. Bạn cũng có thể tham khảo ý kiến của các nhà tư vấn về điều trị ung thư. Cùng với việc tìm hiểu trực tiếp qua các bác sĩ điều trị cho bạn, bạn có thể tìm các tài liệu trong thư viện hay qua những nguồn tư liệu trên Internet.
          Duy trì một hệ thống giúp đỡ mạnh. Những quan hệ chặt chẽ là quan trọng để đối phó với một bệnh đe doạ đến đời sống. Mặc dù các bạn và gia đình là chỗ dựa tốt nhất của bạn, trong một số trường hợp họ có thể cảm thấy phiền hà về bệnh của bạn. Bạn cũng có thể không có một quan hệ xã hội rộng. Bạn cần tìm sự ủng hộ từ các tổ chức xã hội.
          Đối phó với bệnh của bạn. Đối phó với bệnh của bạn có thể là điều khó khăn nhất bạn chưa bao giờ phải làm. Đối với một số người, có lòng tin tưởng mạnh mẽ giúp họ đối phó dễ dàng hơn với bệnh tật.

CREDCA

Giới thiệu chung

7/16/2007 11:03:05 AM
<p><strong>Chuyen cua chau Nguyen Ngoc Khanh</strong></p>
<p>Anh <strong>Đặng Đ&igrave;nh Thiết</strong><br/>(ảnh chụp năm 2006)</p>
<p><strong>Sach da xuat ban</strong></p>
<p><strong>Sach da xuat ban</strong></p>
<p><strong>Sach da xuat ban</strong></p>
<p><strong>Sach da xuat ban</strong></p>
<p><strong>Sach da xuat ban</strong></p>
<p><strong>Sach da xuat ban</strong></p>